THƠ LƯU THẾ QUYỀN

By Nguyễn Thúy Quỳnh

 

Tôi nhận được 2 email của bạn Lưu Thế Quyền "Em vào trang của chị và thấy cũng hay nên em mạo muội xin gửi một bài thơ của em và mong chị đăng cho em một bài trên blog của chị.Rất mong đón chị sang blog của em chơi http://luuthequyen.blogtiengviet.net/.Chúc chị luôn luôn Hạnh phúc."

Rất vui được làm quen với một bạn thơ mới ở bên kia Tam Đảo! Cảm ơn bạn đã có hứng thú với blog của tôi. Hân hạnh giới thiệu 2 bài thơ của Lưu Thế Quyền đến mọi người.



TỨ THƠ NÀO CHO NGÀY 2/9


Đặt bút lên trang giấy
Tự hỏi mình
Tứ thơ nào cho ngày 2/9?
Không trả lời được
Đất nước vẫn vươn lên.

Ngày mồng 2/9
Bác Tuyên ngôn trên quảng trường Ba Đình
Để thành bông hoa
Việt Nam
Rạng rỡ vào lòng nhân loại.


Ngày mồng 2/9
Sao vàng
Bay qua miền cổ tích
Việt Nam
Vinh quang ngày 30/04
Nhân loại sững sờ.

Tứ thơ nào cho ngày 2/9
Khi tráng ca mãi mãi khải hoàn
Bình minh gọi một mùa thu biêng biếc
Triệu triệu người vẫn tiếp bước đi.

   
 
 
KHÔNG ĐỀ


Tôi lại về bên trang giấy
Cứ khóc đời tình biết mấy thương đau
Nào đâu những chuyện nông sâu
Cứ da diết mãi một màu trần gian.

Có ai mơ đến Niết bàn
Mà không lụy tục hai hàng khói bay
Có ai qua những cơn say
Mà không cạn kiệt những ngày héo khô.

Bao nhiêu khổ ải vần thơ
Cũng là nhận lấy hững hờ đấy thôi
Trách chi quả núi đầy vơi
Muộn phiền ta mãi đem nơi hẹn hò...

Thế gian quay quắt những trò
Riêng ta vẫn mãi dại khờ...riêng ta.

**Lưu Thế Quyền**
Trích trong tập thơ KHÚC QUÊ HƯƠNG_NXB HỘI NHÀ VĂN_2010

More...

BÀI ĐÁNG ĐỌC CỦA MỘT NGƯỜI TRUNG QUỐC VIẾT VỀ TRUNG QUỐC

By Nguyễn Thúy Quỳnh

 


 

Tôi đọc bài này trên trannhuong.com thấy hay nên bê về chia sẻ với bà con. Nó hơi dài so với những bài báo thông thường nhưng rất đáng để mọi người dành thời gian đọc nó.
Trông người mà ngẫm đến ta...


 

 

NIỀM TIN VÀ ĐẠO ĐỨC


     Lưu Á Châu (Liu Ya-zhou Trung Quốc)
    Giới thiệu và lược dịch: Nguyễn Hải Hoành


       Lời giới thiệu : Dưới đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của trung tướng không quân Lưu Á Châu hồi ấy là chính uỷ bộ đội không quân Quân khu Thành Đô Trung Quốc trước các cán bộ quân đội cấp tiểu đoàn trở lên tại căn cứ không quân Côn Minh Vân Nam. Đầu đề các đoạn và ghi chú trong ngoặc [  ] là của người dịch. Bài này được đăng trên nhiều mạng Trung Quốc dưới đầu đề Bàn về niềm tin và đạo đức đã gây tiếng vang rất lớn ở trong và ngoài nước.
Lưu Á Châu sinh năm 1952 là con rể cố Chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm có thời là phó chính uỷ bộ đội không quân Trung Quốc nay là chính uỷ trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc từng là giáo sư thỉnh giảng của ĐH Stanford Mỹ. Ông đồng thời là một nhà văn có tiếng chủ nhân một số giải thưởng văn học. Các bài viết ngôn từ mạnh dạn quan điểm mới mẻ (nhất là quan điểm đối với Mỹ) lập luận sắc bén của ông được dư luận rất quan tâm.


     Người phê phán văn hoá Trung Hoa


     Trong quá khứ tôi trước tiên là người kế thừa văn hoá Trung Hoa sau đó mới là người phê phán văn hoá Trung Hoa. Hiện nay tôi trước tiên là người phê phán văn hoá Trung Hoa sau đó mới là người kế thừa.
     Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu cái sai thành cái tốt cái đúng; lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt cái đúng thành cái xấu cái sai. Thời cổ phương Tây cái gì cũng cấm chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm riêng bản năng thì cấm. Người phương Tây dám thể hiện bản thân tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình cho nên tìm được ánh sáng tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.
 

More...

BÀ CON LÀM THƠ CẦN ĐỌC BÀI VIẾT NÀY!

By Nguyễn Thúy Quỳnh

Bài viết này của nhà thơ Anh Ngọc hiện đang ở trang viet-studies.info. Nó ra đời cách đây 19 năm vậy mà khi mới đọc tôi tưởng đây là tham luận của nhà thơ Anh Ngọc gửi tới Đại hội Nhà văn lần thứ VIII. Nó thẳng thắn công phu tâm huyết như rất nhiều bài viết của nhiều nhà văn nhà thơ nhà nghiên cứu trên các báo Văn nghệ Tạp chí Văn Học thời kỳ đầu đổi mới. Nhưng... có lẽ vì ngày ấy việc in ấn xuất bản không thuận lợi như bây giờ nên ít người được đọc chăng? Tôi nghĩ vậy vì tôi tin nếu những người làm thơ nghiêm túc đọc suy ngẫm và soi lại mình thì có lẽ thơ Việt hôm nay đã khác đi nhiều lắm.  



Sự bao cấp trong thơ


 

              ANH NGỌC


     

Bài viết này chỉ đề cập đến tình hình thơ trong khu vực văn học Cách mạng từ sau 1945 đến ngày đất nước bước vào Đổi mới. Trong giai đoạn ấy nền thơ ta đã có những thành tựu to lớn. Đã có nhiều bài báo trang sách viết về điều này. Tuy nhiên nền thơ ấy cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết. Nếu như mỗi bài viết không nhất thiết là một bản báo cáo có đầy đủ các mặt của một hiện tượng mà có thể chỉ đề cập đến một mặt trong số đó thôi - thì bài viết này tôi chỉ xin được dành cho một vấn đề: Những mặt còn yếu kém của nền thơ ta trong hơn bốn mươi năm qua. Hy vọng các bạn đọc thân mến sẽ thông cảm với cách đặt vấn đề như vậy.

*

Anh Việt Phương đã có lần tâm sự rất chân thành rằng anh luôn băn khoăn không hiểu cái thứ bao nhiêu năm nay mình vẫn viết có phải là thơ hay không. Sách anh in ra được gọi là tập thơ anh cũng được gọi là nhà thơ - nhưng băn khoăn ấy của anh là có thật và có lý. Trường hợp Việt Phương là tiêu biểu nhưng không hề là cá biệt. Suy rộng ra băn khoăn ấy đã ám ảnh nhiều người làm thơ chúng ta trong đó có cả người viết những dòng này. Bởi vì cũng như anh Phương khi đối chiếu thơ mình với thơ của tiền nhân và thơ thế giới tôi cảm thấy rất rõ một sự khác biệt nhãn tiền. Đây không phải là việc hay hay là dở - cái khác biệt này nằm ở bản chất của chính thơ.

More...

MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐẠI HỘI NHÀ VĂN LẦN VIII

By Nguyễn Thúy Quỳnh

Lẽ ra đã có thể up ngay từ Đại hội vì có 3G hẳn hoi. Vậy mà không hiểu sao upload được ảnh đưa vào entry thì không được. May nhờ có ông sui Nguyên Hùng ra tay.

Cảm ơn ông sui Nguyên Hùng đã giúp NTQ đưa ảnh lên.

Còn NTQ thì 3 lần viết chú thích mà vẫn không thành công chẳng biết lần này có được không đây. 

 

Đại hội nhìn từ một mé hội trường. Nhà thơ Hữu Thỉnh giới thiệu trên bục rằng đây là nơi từng diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc. Còn mình thì nghĩ về 11 năm trước lần đầu bước vào chỗ này để dự khai giảng 2 năm sau lại ngồi đây để dự bế giảng. Ngày ấy chẳng nghĩ sẽ có dịp trở lại để ngồi lại những chiếc ghế này. Lại còn ngồi để dự ĐH Nhà văn mới lạ. Hóa ra ở Thủ đô rộng nhất thế giới kiếm được hội trường nghìn chỗ cũng chả dễ dàng gì!

More...

KHI NHÀ VĂN ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

By Nguyễn Thúy Quỳnh



        KHI NHÀ VĂN ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC


         Phan Hồng Giang


          Năm nay là năm được mùa các Đại hội. Đến hẹn lại lên văn nghệ sĩ khắp nước tề tựu chốn đô thành. Gặp nhau là vui gặp nhau là lo âu và hy vọng là thêm một lần chiêm nghiệm lẽ tồn tại của nghề nghiệp mình...
 Cũng tình cờ năm nay hàng triệu người đọc trên thế giới cùng hướng về nhà văn Nga A. Sêkhốp nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh (1860 - 2010) của bậc kỳ tài văn chương này.
 Mặc dù vốn không thích lắm những dịp lễ lạt kỷ niệm rầm rộ ồn ào nhưng theo thói quen tôi vẫn tìm đọc lại những trang văn của Sêkhốp để rồi một lần nữa bái phục văn tài nhân cách của ông một nhà văn đã luôn đồng hành cùng nhân dân Nga...
 Không thể nói về nhiều tác phẩm của ông. Chỉ xin dừng lại ở một truyện ngắn nổi tiếng: truyện Cây phúc bồn tử ra đời từ cuối thế kỷ 19.

More...

Đọc thơ ngày mất điện

By Nguyễn Thúy Quỳnh

 

Mùa hè năm ngoái mình viết Tản mạn ngày nắng nóng. Năm nay nóng hơn viết thêm được bài nữa. Sang năm thì thế nào nhỉ? Chắc... vẫn phải viết hu hu!


Đọc thơ
ngày mất điện





1.

Ở nơi mất điện

đồng đất chưa kịp hồi sinh sau đại hồng thủy

lúa ngô quắt quay

bạc phếch áo nâu trằn lưng cứu hạn

chưa được mùa đã lại mất mùa

chợ lao động dài thêm những đứng ngồi chờ việc

sân bay đông thêm những thắt đáy lưng ong

vừa khéo nuôi con vừa khéo chiều chồng

giờ phiêu dạt xứ người

                lo giấc ngủ bữa ăn cho chồng con thiên hạ



Ở nơi chưa từng mất điện

vì có đâu mà mất

bầy em nhỏ ngày ngày đu dây vào tương lai

vùi giấc mơ đến trường nơi hầm than bãi quặng

giữa núi đồi rát bỏng  

những con suối nhỏ không đủ sức đi xa  



Ở nơi có điện

người lính già đầu bạc

rưng rưng nhìn thế sự vần xoay

giá thị trường tăng giá niềm tin giảm

nhà chọc trời vùn vụt mọc lên

úm ba la

nghìn tuổi làng hoá ra thôi nôi phố

những thân cò không còn nơi trú ngụ

dạt về đâu?



More...

NGƯỜI "KÊ CAO" NỀN THƠ TÀY HIỆN ĐẠI

By Nguyễn Thúy Quỳnh



    Người "kê cao" nền thơ Tày hiện đại



    
 
Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước. Ông sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 tại Trùng Khánh Cao Bằng. Hiện ông đang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam.

Bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình khi còn là một chiến sĩ bộ đội đặc công sau khi chuyển ngành ông từng theo học và tốt nghiệp Trường Sân khấu Điện ảnh Việt Nam và Trường Viết văn Nguyễn Du. Ông ghi dấu tên mình vào đời sống văn học Việt Nam từ bài thơ Tiếng hát tháng Giêng - Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1984. Và cũng từ ấy cuộc đời ông gắn với thơ như duyên nghiệp và lẽ sống. Hơn hai mươi năm qua ông sáng tác và công bố 6 tập thơ : Tiếng hát tháng Giêng (thơ 1986); Lời chúc (thơ 1987); Đàn then (thơ 1996); Chín tháng (trường ca 1998) Thơ Y Phương (2000); Thất tàng lồm (Ngược gió thơ song ngữ Tày-Việt 2006).



     Y Phương quan niệm: "Văn chương là một việc làm trả ơn những người sinh thành và nuôi dưỡng mình". Nhưng trên thực tế ông đã không chỉ làm được việc trả ơn cho cha mẹ cho dân tộc đã sinh ra và nuôi dưỡng mình mà bằng tài năng và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc ông đã thực sự làm rạng danh cho thơ Tày và góp một giọng điệu lạ cho thơ Việt thế kỷ XX. Đặt thơ Y Phương trong dòng chảy liên tục của thơ Tày thế kỷ XX chúng tôi nhận ra: Nếu như thơ của các thế hệ trước Y Phương như Nông Quốc Chấn Nông Minh Châu Nông Viết Toại Triều Ân... trên cơ sở kế thừa sâu sắc truyền thống thi ca Tày đã thực hiện sứ mệnh mang thơ Tày gia nhập nền thơ Việt Nam hiện đại thì trong khoảng hai mươi năm qua thơ Y Phương đã đưa thơ Tày lên một tầm cao mới vừa chiếm lĩnh tư duy và thi pháp thơ hiện đại vừa làm giàu bản sắc dân tộc.

More...

BA PHÁC THẢO VỀ THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN

By Nguyễn Thúy Quỳnh

BA PHÁC THẢO VỀ THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN

                                                                         


     Nhà thơ Ma Trường Nguyên sinh năm 1944 tại xóm Đồng Chẩm xã Phú Đình Định Hóa Thái Nguyên. Hiện thường trú tại thành phố Thái Nguyên.

 

Ông từng tham gia quân đội làm phóng viên báo Quân khu III. Sau khi ra quân ông chuyển về tạp chí Văn nghệ Việt Bắc sau đó đảm nhận các công viêc: biên tập viên Nxb Văn hóa dân tộc Phó giám đốc Sở VHTT Bắc Thái Thái Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Thái Nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội TBT báo Văn nghệ Thái Nguyên. Ông tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du.
     
Tác phẩm chính đã xuất bản: Mát xanh rừng cọ (trường ca 1983); Trái tim không ngủ (thơ 1988); Mũi tên ám khói (tiểu thuyết 1991); Gió hoang (tiểu thuyết 1992); Tình xứ mây (tiểu thuyết 1993); Trăng yêu (tiểu thuyết 1993); Bến đời (tiểu thuyết 1995); Rễ người dài (tiểu thuyết 1996); Tiếng lá rừng gọi đôi (thơ 1996). Cơn dông thời niên thiếu (truyện 1997) Mùa hoa hải đường (tiểu thuyết 1998) Dòng suối tuổi thơ tôi (tự truyện 2004) Câu hát vắt qua vai (thơ 2005) Cây nêu (thơ 2006) Bắc cầu vồng thăm nhau (thơ 2007).

  Ma Trường Nguyên từng đoạt Giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT VN năm 1996 (tiểu thuyết Rễ người dài) và nhiều giải thưởng văn học của địa phương.

---------

More...

THƠ MAI LIỄU - DÒNG HOÀI NIỆM VỀ QUÊ HƯƠNG CỘI NGUỒN

By Nguyễn Thúy Quỳnh

 Nhân dịp sắp Đại hội Nhà văn  xin lần lượt post lên đây 3 bài viết về thơ của 3 nhà thơ dân tộc Tày để mọi người đọc chơi. Bài này viết về thơ Mai Liễu sau đó là thơ Ma Trường Nguyên. Cuối cùng là thơ Y Phương. 
    



      THƠ MAI LIỄU -
DÒNG HOÀI NIỆM VỀ QUÊ HƯƠNG CỘI NGUỒN



 

Nhà thơ Mai Liễu là tác giả của 7 tập thơ: Suối làng  (1994) Mây vẫn bay về núi (1995) Lời then ai buộc (1996) Tìm tuổi (1998) Giấc mơ của núi  (2001) Đầu nguồn mây trắng (2004) Bếp lửa nhà sàn  (2005).  Ông cũng được trao nhiều giải thưởng văn chương quan trọng như: Giải Ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 2000 Tặng thưởng của UBTQ Liên hiệp các  VHNT Việt Nam- 1996 và giải B năm 2005 3 giải B của Hội VHNT các DTTS Việt Nam các năm 1998 2001 2002.


       Thơ Mai Liễu khá phong phú về đề tài. Nhà thơ viết nhiều về Bác Hồ về chiến tranh và người lính về tình yêu và gần đây viết nhiều về thế sự nhưng đề tài mà ông quan tâm hơn cả và qua đó cũng bộc lộ con người thơ của mình nhiều hơn cả là quê hương và tình người miền núi. Như nhà thơ từng bộc lộ: "Quê hương và tình người miền núi là niềm trăn trở hối thúc tôi cầm bút và nó còn trở đi trở lại mãi trong cuộc đời cầm bút của tôi" (Lời đầu sách - Đầu nguồn mây trắng) chỉ thống kê trong tập thơ chọn Đầu nguồn mây trắng của Mai Liễu đã có đến  66/112 bài thuộc đề tài này. Những bài thơ được viết ra từ ý thức và tình yêu thương chân thành đối với nguồn cội và dân tộc Tày của mình. Không chỉ như vậy thơ Mai Liễu còn là nỗi hoài niệm sâu sắc về quê hương và cội nguồn của một người ly hương do những đổi thay của cuộc sống cá nhân và rồi nó khiến người đọc nhìn thấy những điều lớn lao hơn về sự thay đổi của cả một cộng đồng.


More...

Về những con cá chết ở sông Nhuệ

By Nguyễn Thúy Quỳnh

Định post ít ảnh về Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc lên để bà con xem chơi thì lại thấy ti vi tối nay đưa tin cá chết trắng sông nông dân thiệt đơn thiệt kép tự nhiên buồn không thể tả. Cách đây ít lâu tôi đã từng viết về những con cá chết ở sông Nhuệ trong một trạng thái xót xa thế này.




Về những con cá chết ở sông Nhuệ



 

Không biết

khi trồi trụt trong dòng sông quánh đặc

vật vã hớp liên hồi trên mặt nước

nhìn những chùm trứng bầm đen

báo hiệu sự tuyệt diệt của bao giống nòi đã vẫy vùng dưới kia

                                                    từ khi loài người chưa có mặt
quẫy đạp vô hồi để lọc lấy từng phân tử ô xy sót lại

trước khi chìm vào cơn ngạt thở vĩnh viễn...

những con cá sông Nhuệ nghĩ gì?


 


Những lời đầu môi giờ trôi về đâu

chỉ còn lại vạn giấc chết vô tội nổi trắng mặt sông

chỉ còn lại dòng sông bị giết từ lâu mỗi ngày lại chết thêm lần nữa

chỉ còn lại vạn sinh linh nhỏ nhoi không là cá thẫn thờ mép sông

hớp những ngụm không khí  mùi cá chết

muốn quẫy như cá mà không được.



 

Những dòng xe đen nườm nượp chảy về đâu

bỏ lại một dòng sông đen

lầm lụi chở những hồn cá về miền giải oan

và một dòng sông khác

chảy âm thầm trên những gương mặt

sạm đen.

 

 

More...