English
Nguyễn Thúy Quỳnh
  Sign up

This page looks plain and unstyled because you're using a non-standard compliant browser. To see it in its best form, please upgrade to a browser that supports web standards. It's free and painless.

TRANG CHíNH | ALBUMS | ADMIN | MOBILE
Tự giới thiệu

My photo
Nguyễn Thúy Quỳnh

Tuổi Thân, nhưng không sinh vào giờ Dần. Làm thơ, làm báo.
Hiện sống và làm việc tại Thái Nguyên.
Email: thuyquynhtn@gmail.com

tìm kiếm
lịch
« November 2014 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30            
các chủ đề gần đây nhất
Mình rất tâm đắc với bài viết này của thầy Trần Đình Sử: NGHỀ VĂN KHÔNG SANG TRỌNG
Về một con mèo bị xe cán
Một hoàn cảnh thương tâm cần được sẻ chia
Ra Trường Sa để biết, kỳ 4: Tác nghiệp
Nhà văn Vi Hồng và những “lạch rêu”
Ra Trường Sa để biết - Kỳ 3: Nước mắt đồng đội
Ra Trường Sa để biết - kỳ 2: Bức thư gửi cha
Ra Trường Sa để biết…
Về một vụ bầu chọn inh ỏi
THƠ CHU HOẠCH
Không phải một cuốn sách mà là một đời sống
Người cần vụ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Bài được xem nhiều nhất
các góp ý gần đây nhất
test: Website : test Wow, that's what I was exploring for, what a data! existing here at this...
test: Website : test It's an amazing article designed for all the internet viewers; they will get...
test: Website : test Everything is very open with a clear explanation of the challenges. It was...
test: Website : test Thanks for the good writeup. It actually was once a entertainment account it....
test: Website : test I read this article completely on the topic of the difference of hottest and...
test: Website : test I simply could not go away your website prior to suggesting that I actually...
test: Website : test Hello everyone, it's my first pay a visit at this site, and piece of writing...
test: Website : test You made some good points there. I looked on the internet for more information...
test: Website : test Thanks for your personal marvelous posting! I seriously enjoyed reading it, you...
test: Website : test Thanks for another great article. Where else may just anyone get that type of...
Rosetta Brookshire: You made some decent points there. I checked on the net for more info about the issue and found...
Fern: Sweet blog! I found it while surfing around on Yahoo News. Do you have any tips on how to get...
Delores: It's enormous that you are getting ideas from this post as well as from our dialogue made at...
Kandy: It is appropriate time to make a few plans for the future and it is time to be happy. I have...
Celsa: Because the admin of this web page is working, no question very rapidly it will be renowned,...
test: I've been browsing online more than 3 hours these days, but I never discovered any fascinating...
test: Paragraph writing is also a excitement, if you know afterward you can write if not it is...
test: Appreciate the recommendation. Let me try it out. My website : test
test: I'm curious to find out what blog platform you have been using? I'm having some small security...
test: When I originally commented I appear to have clicked the -Notify me when new comments are...
test: Excellent blog here! Also your site loads up very fast! What web host are you using? Can I get...
test: Spot on with this write-up, I seriously believe this amazing site needs a lot more attention....
test: Amazing! Its genuinely amazing paragraph, I have got much clear idea concerning from this post....
business electricity rates: Its such as you learn my mind! You seem to understand so much about this, such as you wrote the...
Mariel: Excellent post. I was checking continuously this blog and I'm impressed! Extremely useful info...
free minecraft: Minecraft really is a sand box indie game firstly made by Mojang where you start building by...
kursy-szkolenia-plc.pl: Magnificent items from you, man. I have bear in mind your stuff previous to and you are simply...
minecraft free download with multiplayer and mods: Stunning story there. What occurred after? Thanks!
http://www.minecraft.org/: Regardless of whether you play Minecraft Traditional, Minecraft Creative or possibly Minecraft...
leczenie refluksu: I every time emailed this website post page to all my friends, because if like to read it next...
xuất bản tin
RSS 0.90
RSS 1.0
RSS 2.0
Atom 0.3
lưu trữ
August 2013
January 2013
June 2012
May 2012
October 2011
September 2011
August 2011
July 2011
June 2011
May 2011
April 2011
March 2011
November 2010
October 2010
September 2010
August 2010
July 2010
June 2010
May 2010
April 2010
March 2010
February 2010
January 2010
December 2009
November 2009
October 2009
September 2009
August 2009
July 2009
June 2009
May 2009
April 2009
March 2009
February 2009
January 2009
December 2008
November 2008
October 2008
February 2007
January 2007
categories
Album [13]
tạp văn [23]
Bài hay cùng đọc [31]
thơ Nguyễn Thúy Quỳnh [39]
Chung [47]
hương sắc quê nhà [4]
Nghiên cứu - phê bình - trao đổi [28]
tác phẩm của bạn văn [22]
bàn luận [4]
Văn chương Thái Nguyên [8]
ống kính cuộc đời [4]
truyện của Nguyễn Thúy Quỳnh [7]
dành cho tình yêu [1]
vui cười [0]
liên kết cá nhân
CHUNG
Ảnh nghệ thuật Việt Nam
Sài Gòn tiếp thị
Tiền phong
Văn nghệ Công an
TRANG CHỦ VNWEBLOGS
TIA SÁNG
BÁO MỚI
VNN
Báo Nhân dân
CLB Người yêu thơ
Thơ trẻ
Tạp chí Sông Hương
Văn nghệ sông Cửu Long
Hội Nhà văn VN
Văn nghệ quân đội
WEB - BLOG CÁ NHÂN
Người Lữ Hành Kì Dị
Trần Đức Tiến
Thanh Chung
Ba Sàm
Trần Vân Hạc
Võ Đắc Danh
Nico
Nguyên Hùng
Trương Duy Nhất
Triệu Xuân
Vũ Hồng
Mai Thìn
Phong Điệp
Trần Hữu Dũng
Trần Nhương
Lê Thiếu Nhơn
Văn Công Hùng
Vũ Hải Sa
Hoàng Đình Quang
Nguyễn Đức Thiện
Trạng thái của blog
Tổng số bài viết: 231
Tổng số góp ý: 2
Tổng số trackbacks: 0
Tổng số lượt xem bài: 115.634
 
 

Powered by Vnweblogs

Mình rất tâm đắc với bài viết này của thầy Trần Đình Sử: NGHỀ VĂN KHÔNG SANG TRỌNG

nguyenthuyquynh 20 August, 2013 10:22 Bài hay cùng đọc Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (2) Bản inBản in

altCách đây không lâu có người cao hứng tung ra một ý kiến ngộ nhận: “Nghề văn là nghề sang trọng.” Bao nhiêu người nói theo. Thế rồi ảo tưởng, hiếu danh, thế rồi số người viết văn, làm thơ tăng vọt, thế rồi số hội viên hội nhà văn ngày một tăng. Người sắp hàng chờ vào hội cũng rất đông.

Tôi không có ý phản đối ai làm nghề văn, tôi cũng không nghĩ rằng mọi người vào hội đều háo danh. Tôi chỉ muốn nói nghề văn không phải là nghề sang trọng, nhất là vào thời hiện đại.


Ngộ nhận đó có thể bắt đầu từ một thời văn chương là thú vui nhàn hạ của tầng lớp quan lại, áo mũ xênh xang, là nghề làm đẹp các sinh hoạt của giai tầng quý tộc, được tài trợ hậu hĩnh, là nghề may ra có thể có tác phẩm để đời (để khoe khoang cùng người sang trong họ, ngoài làng, thỏa mãn tâm lí hiếu danh). Người ấy có thể không biết, từ ngày xưa, văn chương của kẻ đã ở vào lầu son gác tía thường không hay bằng văn chương của kẻ ở lều tranh, đồng vắng. (Xem tiếp)

Về một con mèo bị xe cán

nguyenthuyquynh 11 January, 2013 18:33 thơ Nguyễn Thúy Quỳnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (10) Bản inBản in

 

 

 

   Có phải cơn mưa đêm

   hay xe rửa đường sớm nay

   đã xóa sạch hình hài của nó?

 

   Xóa sạch cái hình hài bé nhỏ nát bấy chiều qua

   đủ để nhận ra nó vừa là một con mèo

   chắc mới vài tháng tuổi.

   Giữa bầy nhầy máu

   sót lại một vạt lông trắng mịn

   làm tôi toát lạnh cả ngày

   có lẽ nó xinh lắm

 

   Nó bé bỏng và thanh khiết thế

   ra ngã năm làm gì

   để chết tức tưởi dưới một bánh xe vô tình

   chết thêm hàng vạn lần dưới những vòng xe vô cảm

   và bây giờ

   biến mất trên đời như chưa từng xuất hiện.

 

   Thế giới loài người

   mỗi ngày dưới những bánh xe

   lại biến mất hàng nghìn sinh mạng

   như không.

   Nên trong con số thống kê của lực lượng chức năng hôm nay

   không có nó.

 

   Nhưng tôi tin thế giới loài mèo

   Đang lặng câm khóc.

 

                               3/12/2012

 

 

 



Một hoàn cảnh thương tâm cần được sẻ chia

nguyenthuyquynh 08 January, 2013 17:03 ống kính cuộc đời Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (0) Bản inBản in

TRẦN SÁNG


Cạnh lối vào tầng hầm chợ Thái (thành phố Thái Nguyên), thường thấy người đàn ông tật nguyền, đôi chân teo quắt như hai ống điếu ngồi xin ăn bên cạnh là cậu bé con lem luốc nhưng cặp mắt to trong veo, khá kháu khỉnh. Những hôm không thấy mặt, bà con tiểu thương quanh đấy lại chép miệng thương cảm “chắc lại đau ốm gì, mà không thấy ông Tằm mang con lên”. Cảnh khổ ở đời thì nhiều, nhưng  hoàn cảnh như bố con ông Tằm kể như  cũng là cảnh khổ lạ.

 

alt

 (Xem tiếp)

Ra Trường Sa để biết, kỳ 4: Tác nghiệp

nguyenthuyquynh 20 June, 2012 16:13 tạp văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (9) Bản inBản in

 

 Tạm biệt Trường Sa, tôi càng thêm trân trọng nghề báo mà mình theo đuổi, cái nghề mà nhờ nó chúng tôi có thể giúp cho người khác tin yêu những gì mình tin yêu, nhất là khi sự tin yêu ấy thật cao cả bởi chúng ta cùng nhìn về một hướng.

 

  Trước khi ra Trường Sa, tôi tìm đọc báo chí viết về Trường Sa của lớp lớp đồng nghiệp đi trước, vừa để có những hiểu biết cơ bản, vừa để tránh lặp lại những gì họ đã viết. Càng đọc càng thấy… lo lắng, vì Trường Sa là khu vực thông tin ưu tiên của tất cả các báo, nên đã được khai thác kỹ lắm rồi, không biết mình còn gì để viết ?! Khi lên tàu, lại “choáng” vì chuyến này có tới hơn ba mươi nhà báo, nhà văn. Ấy là mới có một đoàn công tác, còn mười mấy đoàn ra Trường Sa mùa này nữa, thì nhà báo có mà… “đông hơn quân Nguyên”! Chúng tôi bảo nhau: Thế này thì gay rồi, đụng hàng chan chát cho mà xem!

  Bây giờ ngồi đọc lại những gì các nhà báo có mặt trên tàu HQ 996 chuyến ấy viết, mới thấy hóa ra là không phải vậy. Bài viết nào cũng chân thực và giàu cảm xúc nhưng lại không mấy “đụng hàng”, bởi ai cũng chọn cho mình một góc nhìn riêng, vì thế mà vẫn đảo ấy, người ấy nhưng lạ mà quen, quen mà… vẫn lạ!

 

alt

 (Xem tiếp)

Nhà văn Vi Hồng và những “lạch rêu”

nguyenthuyquynh 12 June, 2012 17:18 tạp văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (2) Bản inBản in

 

    Một trong những niềm tự hào của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, nhà văn Vi Hồng (1934 - 1997) vừa được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Dù đã rời xa cõi trần  15 năm, nhưng ông vẫn để lại trong gia đình, đồng nghiệp, học trò niềm yêu kính và xót thương sâu sắc, không chỉ bởi sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ mà còn bởi ông đã sống một đời văn với đủ đầy vinh quang và cay đắng.alt

  Nhà văn Vi Hồng dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng, sinh sống và làm việc tại Thái Nguyên (ông dạy Văn tại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc). Hoàn cảnh cá nhân éo le ở vào thời đoạn đất nước muôn bề khó khăn đã khiến cho gần như cả cuộc đời nhà văn Vi Hồng chìm trong cảnh bần hàn và bệnh tật, cho dù ông là giảng viên đại học, và là một nhà văn nổi tiếng của vùng Việt Bắc.

  Ngày nhà văn Vi Hồng còn sống, ở trang cuối của mỗi tác phẩm, ông thường ghi: “Lạch Rêu, ngày…tháng…năm…” khiến không ít người thắc mắc: “Lạch Rêu là đâu nhỉ?”. Ai hỏi, ông chỉ cười, không nói gì. Mãi về sau, những người bạn văn thân thiết mới được ông tiết lộ: “Lạch Rêu” chính là cách ông nói lái hai từ: Lều rách!

 Trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ ông để lại giữa một khu vực dân cư khá sầm uất gần trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, bà quả phụ Hà Thúy Đèm ngậm ngùi: từ ngày bà lấy ông, gia đình đã 7 lần chuyển nhà, lần nào cũng “lạch rêu” hết!

  Cái “lạch rêu” đầu tiên hai người chung sống là một căn nhà lá ba gian ọp ẹp trên đồi Yên Ngựa, cạnh Trường ĐH Sư phạm Việt Bắc. Sau đó, vì túng thiếu, ông bán đi, vào khu tập thể ở. Mấy năm sau, ông chung tiền với một người quen, mua một mảnh đất khá rộng. Trong ngôi nhà lá còn chưa kịp dựng lại, niềm vui vừa mới nhen nhóm đã bị dập tắt bằng niềm cay đắng: người mua chung đất lợi dụng sự cả tin của ông, đã làm giấy tờ đứng tên mình họ, khiến ông mất trắng! Vi Hồng đành dắt díu vợ con vào làng, dựng một căn lều tranh ở tạm. Không có nước dùng, phải tắm giặt ở ao, được vài tháng ông đành đem vợ con đi xa hơn, vào tận chân núi Sơn ở ngoài thành phố. Một “lạch rêu” nữa ra đời, lụp xụp và chênh vênh bên sườn đồi đất đỏ. Ngày ngày, người dân địa phương vẫn gặp một ông giáo già nhỏ thó tóc bạc, một người vợ lặng lẽ cùng hai đứa con trai nhỏ sinh đôi lúc nào cũng ngơ ngác. Người qua đường có phần bùi ngùi khi nhìn vào căn nhà rách, nhưng mấy ai biết rằng, cái cộng đồng bé nhỏ và buồn rầu đùm bọc nhau trong ấy đã có những bữa dài dài chỉ ăn cháo nấu với rau cải, lấy hơi sức mà qua ngày đoạn tháng.

  Rồi căn bệnh tim hành hạ khiến ông không thể đạp xe đến trường dạy học được nữa, nên gia đình ông lại rời núi về trường. Sau ngày ấy, nhà trường cắm cho ông một khoảng đất trống nằm giữa hai dãy nhà. Tận dụng hai bức tường, ông đã nhờ các nam sinh khoa Ngữ Văn giúp dựng cột kèo, lợp mái cọ lên thành một cái lều ở tạm. Lều hẹp đến nỗi, chỉ vừa đủ chứa một cái tủ, hai cái giường, một cái bàn viết, đằng trước vẩy ra một cái chái làm bếp. Cái lều ấy đã là nơi lui tới của bao nhiêu bầu bạn văn chương xa gần. Năm 1991, nhà trường kỷ niệm 25 năm ngày thành lập, đồng nghiệp và học trò khắp nơi về dự, hỏi thăm nhà của thầy giáo - nhà văn Vi Hồng, có lãnh đạo đã giấu biệt, không dám chỉ đường. Vậy mà nhiều người vẫn tìm tới được, để rồi cứ ôm lấy thân hình gầy guộc của ông mà khóc rưng rức.

  Thay thế cho cái lều ấy là ngôi nhà bây giờ vợ con ông đang ở, cũng là ngôi nhà cuối cùng ông dựng trước lúc đi xa. Lọt thỏm giữa những nhà tầng bề thế, căn nhà cấp 4 thấp hơn mặt đường, cứ mưa là ngập úng trong nước bẩn. Hai cậu con trai, một công tác ở quê, một chuẩn bị về quê xin việc, đang là nỗi lo của mẹ về chuyện nhà cửa. “Chưa sửa được nhà, chẳng đứa nào dám lấy vợ”, bà Đèm phàn nàn.

  Trong những “lạch rêu”, tác phẩm của ông nối nhau ra đời. Giữa cảnh bần hàn và bệnh tật, ông đã sống và viết với một sức sáng tạo phi thường.  Ông viết liên tục, cứ vài tháng lại xong một cuốn tiểu thuyết. Phần vì sự mưu sinh, bởi ông là một trong những nhà văn hiếm hoi thời ấy, dùng nhuận bút để nuôi vợ con, phần vì ông muốn để lại cho đời những trang viết lung linh vẻ đẹp đặc sắc của văn hóa dân tộc ông.alt

  Trong những “lạch rêu” của Vi Hồng, đêm ngày vang lên tiếng gõ lách cách của chiếc máy chữ, mà dùng nó không ai khác ngoài người vợ yêu thương của ông, người vừa chăm chút ông như một đứa trẻ, từ tắm rửa, cắt tóc, vệ sinh hàng ngày, vừa là thư ký cần mẫn cho các bản thảo của ông. Lúc khỏe thì ngồi được, lúc yếu thì nằm, ông gọi ra những con chữ trong trí não mình, bà cần mẫn gõ chúng trên giấy. Những đứa con tinh thần của ông đã lần lượt ra đời như thế.

  Với hành trình lao động nghệ thuật gần 40 năm nhọc nhằn, ông đã để lại 15 tiểu thuyết, 8 truyện ngắn, 6 tập sưu tầm truyện cổ Tày Nùng, nhiều công trình nghiên cứu về sli lượn, dân ca nghi lễ Tày Nùng. Hai tác phẩm được trao tặng Giải thưởng Nhà nước lần này là tiểu thuyết Đất bằng (1980) và truyện dài Đường về với mẹ chữ  (1995). Ông là người góp nhiều công sức cho việc kiến tạo nền văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Bởi vậy, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012 trao tặng cho nhà văn Vi Hồng không chỉ là sự tôn vinh dành cho cá nhân nhà văn mà còn là  niềm vui chung của văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số.  

  Trước ngày đi xa, nhà văn Vi Hồng vẫn mong mỏi dựng được một ngôi nhà vững chãi cho vợ con. Bà Hà Thúy Đèm cho biết số tiền thưởng sẽ dùng để sửa lại căn nhà đã dột nát. Mong rằng niềm mong mỏi của Vi Hồng sẽ được thực hiện phần nào, và cái “lạch rêu” cuối cùng của ông sẽ chỉ còn là kỷ niệm trong những tấm ảnh./                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            Nhà văn Vi Hồng khi còn sống,

                                                                                                      và người vợ một đời tận tụy vì sự nghiệp của chồng

 alt

Bà Hà Thúy Đèm và cái "lạch rêu" cuối cùng của nhà văn Vi Hồng

Ra Trường Sa để biết - Kỳ 3: Nước mắt đồng đội

nguyenthuyquynh 29 May, 2012 15:43 tạp văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (12) Bản inBản in

 

alt

     Cùng đi trong đoàn công tác có nhà thơ Trần Đăng Khoa, người đã từng là lính Trường Sa. Sự trở lại của nhà thơ nổi tiếng, tác giả “Đảo chìm” lừng lẫy được cánh nhà báo “khai thác triệt để”. Riêng tôi, tôi ám ảnh mãi câu nói của anh: “Đất nước mình đâu đâu cũng có nghĩa trang. Trường Sơn đã là nghĩa trang rừng. Bây giờ ta lại có nghĩa trang nước, nghĩa trang biển. Biển Đông này, Trường Sa này, là một nghĩa trang khổng lồ. Đã có những đồng chí, đồng đội của tôi vĩnh viễn ở lại với biển”.

   Quả là như thế. Nơi biển Đông thăm thẳm và mênh mông này, không ai tính được đã có bao nhiêu con cháu Lạc Hồng dâng hiến sinh mạng mình cho Tổ quốc. Trên những chiếc thuyền gỗ của hải đội Hoàng Sa, trên những con tàu không số, rồi những con tàu mang phiên hiệu HQ 505, HQ 604, HQ 605, các thế hệ người Việt đã nối tiếp nhau mở mang và giữ gìn bờ cõi. Và ngay cả giữa thời bình, máu của những người lính vẫn không ngừng đổ xuống. Trên các đảo Trường Sa lớn, Trường Sa Đông, Nam Yết, Sơn Ca hôm nay, vẫn còn đó mộ phần của những người lính trẻ hi sinh khi làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đảo. Họ nằm đó, gối đầu lên cát trắng biển xanh, trong niềm thương yêu của đồng đội.

   Vẫn biết sự hy sinh nào cũng đau đớn như nhau, nhưng cứ nghĩ đến những người lính hi sinh trên đảo Gạc Ma, xác tàu còn đó mà chưa thể quy tập được hài cốt, và những người vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển lạnh lẽo thềm lục địa sau cơn bão tố định mệnh, thì nỗi đau trong lòng người sống lại quặn thắt hơn. Bởi thế, lễ tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ hi sinh trên biển Trường Sa và thềm lục địa, một nghi lễ tri ân của mỗi đoàn công tác, luôn được tổ chức trong niềm thành kính và đau đớn nhất. Có mặt trong giờ phút thiêng liêng, trong tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ trầm mặc, trong khói hương nghi ngút, kính cẩn chắp tay trước ban thờ vọng anh linh các liệt sĩ, tự tay thả những bông hoa cúc vàng xuống mặt biển xanh dập dờn khi còi tàu cất lên ba hồi dài vĩnh biệt các anh, tôi không thể nào nén được những dòng nước mắt chảy tràn. Quanh tôi, khắp boong tàu, những mái đầu bạc, đầu xanh run run trong u uẩn khói hương, những tiếng nấc nghẹn ngào cố nén lại để đừng bật lên, những bàn tay thô ráp vội lau nước mắt…

 (Xem tiếp)

Ra Trường Sa để biết - kỳ 2: Bức thư gửi cha

nguyenthuyquynh 27 May, 2012 14:13 tạp văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (9) Bản inBản in

 

alt


   Chúng tôi lên đường ra Trường Sa từ cảng Cát Lái – TP Hồ Chí Minh, ngày 19/4 vừa qua. Ra điểm tập kết khá sớm, mọi người tranh thủ ngắm bình minh trên cảng, chiêm ngưỡng những chiếc tàu dân sự, quân sự đang neo đậu dọc hai bờ sông Đồng Nai mênh mông. Xem đồng hồ thấy còn chừng 30 phút nữa mới tới giờ xuất bến, mấy thành viên trong đoàn rủ nhau tiến đến gần chiếc tàu HQ 501 đậu gần đó. Tàu HQ 501 là một trong những chiếc tàu vận tải quân sự trọng tải lớn, thuộc loại chiến lợi phẩm ta thu được từ quân đội Việt Nam Cộng hòa, nay thuộc biên chế của Lữ đoàn 125 Hải quân. Đang ngắm nghía chiếc tàu có tuổi đời khá cao mà trông vẫn vạm vỡ vì được bộ đội duy tu tốt, chợt một thủy thủ trẻ trên tàu bước xuống và hỏi:

- Có phải các cô chú ở trong đoàn chuẩn bị ra Trường Sa không ạ?

 Những cái gật đầu thay cho lời xác nhận. Chàng trai móc trong túi áo ra một phong bì thư và nói:

- Các chú cho cháu gửi bức thư này ra cho bố cháu ở Trường Sa.

   Người đón nhận bức thư là thiếu tá Lê Thế Phong, Phó bí thư Đoàn thanh niên Tổng cục an ninh 1. Nhìn địa chỉ trên phong bì, anh sững sờ. Thư đề: “Gửi ba Phong, đảo trưởng đảo Gạc Ma”. Mọi người đều lặng đi.

    Thì ra chàng thủy thủ này chính là Nguyễn Tiến Xuân, một trong hai người con trai của liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong, người đảo trưởng đã ngã xuống cùng 63 đồng đội của mình trong cuộc chiến đấu đẫm máu bảo vệ đảo Gạc Ma trước sự xâm lược của Trung Quốc, ngày 14/3/1988. Câu chuyện cảm động về gia đình liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong đã được đăng tải trên nhiều trang báo. Ngày ba Phong hy sinh, Xuân mới bốn tháng, anh trai Nguyễn Mậu Trường 2 tuổi. Ở quê hương gió Lào cát trắng Lệ Ninh - Quảng Bình, người mẹ trẻ Trần Thị Liễu đã chèo chống với cuộc sống gian nan, nuôi hai cậu con trai khôn lớn, để rồi họ lại tiếp bước người cha thân yêu, trở thành chiến sĩ hải quân. Cả hai anh em đều lần lượt xung phong ra Trường Sa. Sau 4 năm gắn bó với các đảo, bây giờ Trường đã giải ngũ. Còn Xuân, sau kỳ thực tập trên tàu 501 sẽ tốt nghiệp Học viện hải quân, chính thức trở thành sĩ quan như cha anh, thượng úy Nguyễn Mậu Phong.

   Xuân dặn: “Chừng nào làm lễ tưởng niệm, chú gửi thư cho ba cháu giúp cháu nhé”.

  Bức thư của người con trai gửi người cha đã khuất được thiếu tá công an Lê Thế Phong nâng niu và trân trọng cài vào vòng hoa trong lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hi sinh trên vùng biển Trường Sa. Không ai nỡ hỏi Xuân tâm sự gì với cha, bởi Xuân cũng đã từ chối khi chúng tôi ngỏ ý muốn viết báo về việc này. Xuân bảo đây là chuyện tình cảm của hai cha con thôi. Nhưng chắc chắn bức thư ấy sẽ mang niềm thương nhớ không nguôi của một người con chưa từng biết mặt cha mình. Nhận được thư con, ở nơi biển sâu lạnh giá, linh hồn liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong chắc cũng ấm áp hơn.

 alt alt 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Tiến Xuân 

và cha, liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong

 

Ra Trường Sa để biết…

nguyenthuyquynh 11 May, 2012 16:05 tạp văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (11) Bản inBản in

 

 alt

 

  12 ngày từ khi rời tàu HQ 996 ở cảng Cát Lái, mình chưa viết chữ nào về Trường Sa.

  Anh em cùng đoàn công tác gửi mail qua lại, ai cũng nói “Nhớ Trường Sa quá!”, ngay từ mail đầu tiên. Các bạn cùng phòng IIE 37 gọi là “hội chứng Trường Sa”. 

  Ảnh đã đổ vào máy tính, ngày nào cũng mở ra ngắm từng cái một. Chuyện thì đã kể từ trong nhà, sang hàng xóm, tới cơ quan, kể mãi không hết.

  Ngày ngày, những cuộc điện thoại, những tin nhắn nhỏ nhoi vẫn vượt  hàng nghìn km về với một người chị xa xôi, là mình. “Chị đang làm gì, chị ơi?”. “Hôm qua có một trận mưa lớn, bọn em hứng được hơn chục khối nước, sướng quá chị ạ! ”, “Hôm nay biển động, bọn em nhìn thấy cá voi chị ạ!”…

  Rồi công việc, việc cơ quan, việc nhà cuốn đi. Kỳ xuất bản cho loạt bài (định viết) về Trường Sa của mình chưa xếp được.

  Và mình vẫn chưa viết được chữ nào.

  Bây giờ, ngồi một mình, tự nhiên nhớ Trường Sa đến cay xè mắt.

  Nhớ những Trường Sa lớn, Đá Lát, Đá Tây, Trường Sa Đông, Phan Vinh, Thuyền Chài, An Bang, nhà giàn DK1/14… những nơi mình đã có may mắn hơn hàng triệu người, là được một lần tới, một lần được chạm vào những biểu tượng kỳ vĩ của chủ quyền đất nước.

  Nhớ con tàu HQ 996 nổi tiếng, với đoàn thủy thủ và tổ phục vụ thân mến, những người anh, người bạn, người em mạnh mẽ và hồn nhiên, giờ này đang vượt sóng trong một hành trình mới.

  Nhớ những vùng nước xanh đen và đặc quánh, chỉ có ở đại dương; nhớ những đêm tàu đi trong thăm thẳm mịt mùng, các bạn cùng phòng ngủ ngon lành, còn mình phập phồng sợ hãi: lỡ chẳng may… thì sao nhỉ?!

  Nhưng nỗi nhớ này, trước hết, xin dành cho các em: Dũng (Trường Sa lớn), Hiệp, Dũng (Thuyền Chài C), Huy (Thuyền Chài A), Trung (Đá Lát), cùng đồng đội của các em, những người lính đang lặng lẽ thắp lại trong chị một cảm xúc mới về sự kỳ diệu tưởng rất tầm thường giữa dòng đời đang bề bộn. Thứ mà trong dằng dặc những ngày tháng chống chọi với bão tố phong ba và kẻ thù giấu mặt các em đã neo vào đó mà kiên gan vượt qua; thứ mà mỗi khi hoàng hôn xuống, các em lại phải nén lòng giấu đi để chiến thắng sự cô độc giữa mênh mông trời nước; thứ mà mỗi khi một đoàn công tác rời đảo, các em lại chông chênh suốt bao nhiêu ngày…

  Điều kỳ diệu ấy, đơn giản lắm.

  Chỉ là một nụ cười, một ánh mắt thân thương, một chén nước chè mời cha, một buổi trưa nhổ tóc sâu cho mẹ, một sắc áo tươi tắn, một giọng nói trong trẻo, một cái hôn vội vàng, một câu hát trẻ thơ   “Cả nhà ta cùng thương yêu nhau, xa là nhớ gần nhau là cười”,... phải không các em trai?  

  Ai đó nói một cách hoa mỹ rằng, “Ra Trường Sa để sống tốt hơn”. Còn chị thì nhận ra rằng, ra Trường Sa để biết thế nào là giá trị của Tình Đồng Loại. Thứ mà chị và vô vàn đồng bào của mình đang mặc nhiên hưởng một cách phung phí, còn các em trân trọng nâng niu như báu vật.

  Viết đến đây, trong tâm trí lại hiện về hình ảnh lá cờ đỏ phất liên hồi trong tay những người lính nhà giàn DK1/14, khi tàu HQ 996 hú còi tạm biệt. Từ trên tầng 3 của giàn thép nhỏ nhoi giữa biển khơi muôn trùng, lá cờ thay cho niềm thương nhớ của lính nhà giàn gửi về đất liền cứ phất mãi, phất mãi không thôi.

  Tự nhiên nước mắt, như lúc vẫy tay tạm biệt những người phất cờ mình chưa từng gặp mặt, lại trào ra.

  Bình yên nhé, các em trai của chị!

Về một vụ bầu chọn inh ỏi

nguyenthuyquynh 25 October, 2011 19:25 Bài hay cùng đọc Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (7) Bản inBản in

COPY TỪ BEO BLOG, VỀ CHUYỆN BẦU HẠ LONG LÀ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

Vẫn biết cái vụ bầu bán này rất "có vấn đề" nên mình không bận tâm, từ khi NOWC loại vịnh Hạ Long ra khỏi danh sách bầu, vì lý do "một số tổ chức thiếu hiểu biết đã tự ý sao chép nội dung và giao diện trang web ww.new7wonders” - theo mình thì thực chất là vì lợi nhuận của họ qua mạng bị chia sẻ . Bây giờ thấy đâu đâu cũng sôi lên tinh thần "bầu cho Hạ Long - lá phiếu của lòng yêu nước", mà kinh quá. Mình chẳng yêu nước theo cách ấy.  

Bê mấy entry này về để mọi người đọc cho biết. Còn vì sao một thằng web giời ơi ở phương nào xa lắc xa lơ lại có thể làm mưa làm gió ở Việt Nam như thế, biết chết liền, hì hì!

TƯỞNG AI CŨNG ĐÃ BIẾT… 

Đăng ngày: 15:08 17-10-2011

Tổ chức lừa tiền thế giới
New7Wonders.com chỉ là ý tưởng "kinh doanh" của một người Canada gốc Thụy Sĩ tên là Bernard Weber. Đây là website của một tổ chức tư nhân đặt trụ sở tại Thụy Sĩ (New Open World) chứ không phải của một dự án của một chính phủ hay tổ chức uy tín nào trên thế giới. Bằng khả năng quảng bá, marketing khéo léo, cộng với cách chọn tên của dự án "New 7 Wonders of Nature", "7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới", Bernard Weber đã đánh vào lòng tự hào dân tộc, lôi kéo và đánh lừa được rất nhiều phương tiện truyền thông, thậm chí cả các ban ngành về tài nguyên thiên nhiên & du lịch ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nghèo có hiểu biết và dân trí thấp.
Bên ngoài, tay lừa đảo Weber tuyên bố rằng dự án của mình “phi lợi nhuận”, nhưng cái sự “phi lợi nhuận” đó giúp hắn kiếm bộn tiền. Mỗi địa danh tham gia phải … kí hợp đồng và đóng cho tổ chức 5k USD/tháng. Các website khác muốn sử dụng các nội dung về các thắng cảnh bình chọn cũng phải trả phí 5k USD/tháng. Ngoài ra, hắn còn có các nguồn thu từ tiền tài trợ, tiền chia từ các công ty dich vụ viễn thông cho phí SMS và vote call, tiền bán các loại hàng hoá như áo phông, đồ lưu niệm với giá rất đắt…
Đặc biệt, bọn lừa tiền N7W còn chơi trò khốn nạn nhất trong các trò khốn nạn đó là … bán phiếu bầu. Một người có thể nhắn bao nhiêu tin tùy thích để bầu chọn. Tức là N7W “thả cửa” cho các con mồi mua càng nhiều phiếu bầu càng tốt. Việc làm này vừa phản khoa học, vừa mang đậm tính chất lừa tiền thiên hạ.
Trả lời về khoản “lợi nhuận” khổng lồ, từ 3 năm trước, báo Sachsen (Đức) dẫn lời N7W tuyên bố: "Chúng tôi cam kết sẽ dùng 50% tiền lãi thu được để đầu tư vào việc tu bổ 7 kỳ quan thế giới mới và một số công trình khác". Khi được hỏi 50% số lãi còn lại sẽ được dùng vào việc gì, N7W im lặng. Chưa kể, đã 3 năm trôi qua nhưng mình chưa thấy tăm hơi gì về khoản tiền tu bổ mà N7W mạnh miệng hứa nó nằm ở đâu cả, bạn nào thấy rồi thì báo cho mình 1 câu với.
Đẳng cấp chém gió cấp quốc tế. (Xem tiếp)

THƠ CHU HOẠCH

nguyenthuyquynh 21 September, 2011 09:04 tác phẩm của bạn văn Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (4) Bản inBản in

Tôi chỉ còn biết tự trách mình kém cỏi khi đến tận hôm nay mới được đọc thơ của ông, trên lethieunhon.com, và từ bạn ông là anh Nguyễn Quyết Thắng gửi cho tôi. Những bài thơ hay đến lạ lùng, là máu thịt của một đời người chìm nổi trong sự dập vùi của thời cuộc đen bạc. Thơ cất lên từ những mảnh vỡ của số phận, cay đắng hết mọi nỗi cay đắng mà vẫn đủ bao dung với Đời.

Tôi nhận từ ông một bài học lớn về Sự Sống.

Rất tình cờ, tôi đã đem thơ của ông về rồi gõ những dòng chữ này, đúng vào ngày giỗ của ông. Kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn ông, họa sĩ – nhà thơ Chu Hoạch.

 

alt

 

 

QUÊ
              
(Kính tặng Quê Trôi và Mẹ)

Quê ơi!
Mưa ở trăm nơi
Nắng ở trăm nơi
Nhớ về áo tơi nón lá

Tôi về quê đây
Đồng quê áo vá
Người quê trắng xóa
Quà quê:
Lưng rá Rô zon
Con Diếc chửa
Đuôi cờ vẫy vẫy sắc hoe hoe
Nội, Ngoại vỗ lưng nhau:
- Ơ kìa con chị Ba Lung!

Tôi xuôi cổng đông
Tôi về cổng Hạ
Em – ôm con đỏ tìm tôi
- Anh ơi, cây Táo bán rồi!
Qua mùa trái xanh chín nục,
                              chín rụng chín rơi…
Lặng cười Tôi dỗ tôi:
- hương táo đầu mùa anh nhớ…

Hôm qua
Mưa đi chơi đêm
Mưa về gọi cửa
Gọi người
Mang câu mang vó đơm đó đồng xa

Nước ngập ao ta
Nước dâng hoa Súng
Đôi Ếch cốm phải lòng nhau
Chốc chốc buông câu thưa gọi…
Đừng đừng Sen ơi ướp hương trà mới
Cho ta đi tìm hương Vối ngày xưa
Siêu nước giếng Chùa bếp rạ

Tôi trở về trong tay Mẹ
Giường thơm trăng xế bốn mùa
Cay đắng nhiều năm bỏ rẻ
Tôi lại mơ

Tôi mơ
Thấy mái Bồ câu
Gọi trống Bồ câu lên chuồng
Thấy Mái hoa mơ tha rơm vàng rải ổ
Một trái trứng hồng sáng sủa
Chàng: Trống đỏ
Lo tái mào
Lo ngày trứng nở
Lo đặt tên con…

Tôi mơ
Thấy con lợn lang
Tru lên hồng hộc
Mệt nhoài
Mười hai chú Lang tơ mum múp ra đời
Vào cái đêm hoa Xoan rơi đầy ngõ

Cây Sung cầu ao tặng nắm lá
Cối gạo cho cám bã
Ao cho bèo
Cây rơm cho hơi ấm chiêm mùa rộ reo
Gốc Tre cho que cời lửa…
Mười hai chú Lang tơ mum múp ra đời
Đồng quê lo lắng
Bao giờ cho hết mối lo?...

Tôi mơ
Giấc ngủ ấu thơ toát mồ hôi hột
Khi tối chót nghe ông Ba Bộ nói về một linh hồn về với Đất
Nhân thấy ngang trời một kiếp sao rơi…

Tôi mơ
Vào tuổi chín, mười
Đình làng nổi trống
Tù và

Rống:
- Tập hợp tiếng động
Làng đuổi Gấu ăn Trăng!
Gấu nhả Trăng rồi
Làng túm ba tụm năm nói về vận nước

Gió lúc nửa đêm chỉ là tiếng thở dài thao thức của đồng quê…

Tôi mơ
Một dải chân đê
Cào cào xòe áo xanh áo đỏ
Dế cà rích gù người tanh tách bật đôi càng cháy thui…
Tôi – là đứa trẻ mồ côi
Bầu bạn với loài sâu bọ
Cha ơi!
thế giới chiến tranh hai có gì vui mà Cha không về nữa?
Hôm nay phố nở sao cờ…

Tôi mơ
Quán trắng đồng chua
Nơi Bà ngoại vừa yên nghỉ
Giữa đồng mưa
    Bà ơi! Không thể
Còn một lần cháu thổi Bà nghe
Bài sáo trúc quen từ sau mỗi độ ra đi …

Tôi mơ
Bài thơ Quê bắt đầu đụng cựa
Sáng rồi
Tôi lại ra đi
Quà quê cắp nách
Quạt nan một đôi
Chổi rơm một chiếc
- Ở tỉnh nhiều người chật chội đụng chung
Anh mang ra một ít gió đồng
Thơm nhà thơm cửa
Anh mang ra một ít rơm mùa chiêm

Em phơi khô quạt rũ
Quét quay sớm hôm
Nhà sạch thì mát
Bát sạch ngon cơm…

        Tôi đi rồi
        Sau lưng
        Quê khóc …
            
               Hà Nội 1963


GIÓ ĐẦU Ô
    (Viếng thi sĩ Đinh Hùng)

Gió đầu ô vào mùa chớm lạnh
Mạnh hơn và có lẽ sạch hơn
Hè bạc nắng rõ đường viền ô gạch
Giấc đầu hè che ngực tấm chăn đơn

Cả trời nữa cũng chuyển vần vân sắc
Tán Bàng xanh đỏ rám tới từng gân
Cũng chẳng thiếu những cành khô ngúc ngắc  
Đã chả buồn giấu mặt giữa không gian

Thu có vẻ như cời than đốt lửa
Ta lại buồn như sắp sửa vào yêu
Để hối tiếc khi tuổi già đập cửa
Ta đổi Buồn
        Vui lấy được bao nhiêu?

Và cứ thế đứng chiều mong chóng tối
Tối mong đêm
              sấp gối lại mong ngày
Ôi chán nghẹn những mùa mưa cũ mới
Cứ bảo Trời không khóc mướn thương vay?

Ta lại buồn như sắp sửa vào say
Biết chạm cốc cùng ai trong ý nghĩ
Biết tìm mắt của ai màu tri kỉ
Mà cần chi khi chẳng thể khuây buồn
Chưa biết chừng có lẽ lại buồn hơn…

Ai bảo kiếp ôm chân thần Vệ nữ
Là nhẹ quên trăm vạn thứ trò đời?
Ta – chỉ thấy lúc tan cơn cuồng dữ
Tất trở về như mọi kiếp buông trôi…

Ai bảo chót mang đời đi lang thang
Là thư thái như một chàng nghệ sĩ?
Ôi, dối trá mà sao không biết sỉ
Hỡi anh chàng ra vẻ phớt buồn đau…

Ta muốn yêu như kiểu những con tàu
Vẫn khao khát giàu thêm màu viễn xứ
Như cái thưở hồng hoang thời dã thú
Tổ tiên loài Người vốn sợ cô đơn…

Có ai nghe cho hết một nỗi buồn
Ta sẽ đến cầu hôn
                         Và có lẽ
Ta sẽ chết trên bàn tay gượng nhẹ
Nỗi buồn ta nhờ thế sẽ tan mau

Có ai cười cho đến trọn ngày đâu
Bởi đau khổ vẫn ẩn rình đây đó
Có ai nghe và phải chăng sẽ có
Một tình yêu không dự cảnh trao tay?

Ta muốn buồn cho hết mức rồi say
Vô cùng tận
            và lăn quay xác thịt
Cho đến tối
            khi đầu ô gió mệt
Nhờ mưa lau dấu vết đêm qua …

Mẹ ơi!
    Mẹ ở lại nhà
Con bất hiếu con ra đi từ sớm
Mẹ nhớ bữa phần cơm con ủ ấm
Ngoài kia lạnh lắm
                Gió đầu ô…

            Hà Nội 7/1967




 (Xem tiếp)

Không phải một cuốn sách mà là một đời sống

nguyenthuyquynh 08 September, 2011 16:33 Nghiên cứu - phê bình - trao đổi Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (11) Bản inBản in


(Đọc “Dặm ngàn hương cốm Mẹ” của Nguyễn Tham Thiện Kế)

 Nguyễn Quang Thiều


 VanVN.Net - Cuốn sách không còn là một cuốn sách nữa. Nó là một đời sống. Sau khi đọc đến dòng cuối cùng của cuốn sách tôi đã nhận ra như vậy. Từng dòng, từng dòng chữ đã dần dần đưa tôi rời xa cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm để bước vào một đời sống của những vẻ đẹp tinh khiết và ngập tràn tinh thần nghi lễ. Đó không phải là một đời sống xa lạ, một đời sống của trí tưởng tượng mà là một đời sống chính tôi đã từng được sống trong nó và giờ đây được sống lại với toàn bộ tinh thần chứa đựng trong nó. Nhưng bây giờ, tinh thần của đời sống ấy đã và đang rời bỏ chúng ta. Và với những trang viết của mình, Nguyễn Tham Thiện Kế thực sự đã phục dựng tinh thần của đời sống ấy, đã làm nó sống lại trong tôi như trong một giấc mơ tôi được trở về một vùng đất với bao điều đẹp đẽ đã biến mất trên thế gian này. Và hơn cả một giấc mơ  là một hiện thực.

alt

  Hầu như tất cả những gì Nguyễn Tham Thiện Kế viết vẫn còn đây. Vẫn còn đây những hoa lý, những đồi cọ, nương sắn, còn đây những cốm, những bánh khúc, còn đây những đào, những loa kèn, những cá Anh vũ, còn đây những ngôi nhà cổ, còn đây những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi, còn đây những Mẹ, những Dì và còn đây bao con người vô danh. Thế nhưng hiện thực của cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm đã đang làm cho lý không đa tình mơ hồ trong nắng hạ như xưa, cọ không còn xanh mộng du trên những vùng đồi trung du như xưa, cốm đã mờ đi ánh sáng xanh trong một ngày thu, đào bớt thắm trong nắng xuân rạo rực, những Anh vũ không còn ngời ngời trong nước biếc, rau khúc không còn dâng hương bất tận dọc chân trời, những ngôi nhà xưa không còn vọng tiếng ai da diết gọi về, những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi loãng đi trong hồn người hơi thở đầm ấm như lửa bếp chiều đông,  thưa dần những bà mẹ đi trong hoàng hôn, vừa đi vừa tỏa hương thơm của ngũ cốc và bao con người vô danh nhưng bóng không còn mãi in trên bức tường ký ức của con người như thuở trước. Tất cả là bởi con người đã đổi thay. Và khi con người đổi thay  giọng nói của mình, đổi thay cách nhìn của mình và đổi thay cảm xúc của mình thì mọi điều bỗng thay đổi.

  Có thể có những người đọc cuốn sách này không tìm thấy những gì tôi tìm thấy. Tôi là người hoài cổ chăng? Hay có phải tôi là người quá nuối tiếc những gì như thế? Có phải những gì trong thế giới của Nguyễn Tham Thiện Kế không còn ý nghĩa trong cuộc sống bây giờ nữa? Hay có phải cái thế giới ấy chỉ là một giấc mơ cho những kẻ lãng mạn không hợp thời như Nguyễn Tham Thiện Kế, như tôi và như bao người khác nữa?  (Xem tiếp)

Người cần vụ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

nguyenthuyquynh 27 August, 2011 08:40 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (16) Bản inBản in


 

   Biết ông từng là cần vụ lâu năm của Đại tướng, một số phóng viên báo chí đã đến xin được trò chuyện và phỏng vấn, nhưng ông đều từ chối. Bởi với ông, những gì thuộc về Đại tướng là rất đỗi thiêng liêng, đến mức ông không đành và không muốn chia sẻ với người khác, mà chỉ muốn giữ cho riêng mình. Vì thế, việc ông dành cho tôi một buổi sáng để trò chuyện thực sự là điều may mắn với tôi.

  Ông là Trần Văn Thìn, ở tổ 23 phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên, người đã có vinh dự được ở bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt phần lớn cuộc đời quân ngũ của mình.

alt

                                                                              Ông Trần Văn Thìn

 

 

 21 năm và lời dặn của Đại tướng

 

 Ông Trần Văn Thìn sinh năm 1940 tại thị xã Thái Nguyên.  Ông kể, ngày ấy thị xã Thái Nguyên chỉ có vài con đường gọi là phố, Quốc lộ 3 đi Bắc Cạn, Chợ Mới chỉ vừa đủ rộng cho cái ô tô tải loại bé bây giờ, lau sậy um tùm, ngả ra đường. Ngày Cách mạng tháng Tám, ông mới 5 tuổi, nhưng giờ vẫn nhớ không khí tưng bừng của những người đi mít tinh giành chính quyền, nghe tiếng hô khẩu hiệu vang vang, cậu bé Thìn còn hớn hở chạy đi xem. Gia đình ông làm ruộng, cuốc đất trồng sắn ở xóm Phủ Liễn, đất đai vừa ở vừa vỡ hoang, làm ruộng. Đến lúc vào hợp tác xã, gia đình ông đóng góp 2,7 mẫu đất.

Tháng 3 năm 1959, ông Thìn được gọi nhập ngũ. Đợt ông đi cũng chính là đợt gọi nghĩa vụ quân sự đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên. Sau ba tháng huấn luyện, ông được phân công về đơn vị bảo vệ cơ quan Bộ Quốc phòng.

Sáu năm ở đơn vị bảo vệ cơ quan Bộ Quốc phòng, đến tháng 10 năm 1965 ông được lệnh chuyển sang phục vụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lúc ấy, Đại tướng là ủy viên Bộ Chính trị,  Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương.

 (Xem tiếp)

1 2 3 ... 18 19 20  Sau»