Về một vụ bầu chọn inh ỏi
nguyenthuyquynh
25 October, 2011 19:25
Bài hay cùng đọc
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
COPY TỪ BEO BLOG, VỀ CHUYỆN BẦU HẠ LONG LÀ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI
Vẫn biết cái vụ bầu bán này rất "có vấn đề" nên mình không bận tâm, từ khi NOWC loại vịnh Hạ Long ra khỏi danh sách bầu, vì lý do "một số tổ chức thiếu hiểu biết đã tự ý sao chép nội dung và giao diện trang web ww.new7wonders” - theo mình thì thực chất là vì lợi nhuận của họ qua mạng bị chia sẻ . Bây giờ thấy đâu đâu cũng sôi lên tinh thần "bầu cho Hạ Long - lá phiếu của lòng yêu nước", mà kinh quá. Mình chẳng yêu nước theo cách ấy.
Bê mấy entry này về để mọi người đọc cho biết. Còn vì sao một thằng web giời ơi ở phương nào xa lắc xa lơ lại có thể làm mưa làm gió ở Việt Nam như thế, biết chết liền, hì hì!
TƯỞNG AI CŨNG ĐÃ BIẾT…
Đăng ngày: 15:08 17-10-2011
Tổ chức lừa tiền thế giới
New7Wonders.com chỉ là ý tưởng "kinh doanh" của một người Canada gốc Thụy Sĩ tên là Bernard Weber. Đây là website của một tổ chức tư nhân đặt trụ sở tại Thụy Sĩ (New Open World) chứ không phải của một dự án của một chính phủ hay tổ chức uy tín nào trên thế giới. Bằng khả năng quảng bá, marketing khéo léo, cộng với cách chọn tên của dự án "New 7 Wonders of Nature", "7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới", Bernard Weber đã đánh vào lòng tự hào dân tộc, lôi kéo và đánh lừa được rất nhiều phương tiện truyền thông, thậm chí cả các ban ngành về tài nguyên thiên nhiên & du lịch ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nghèo có hiểu biết và dân trí thấp.
Bên ngoài, tay lừa đảo Weber tuyên bố rằng dự án của mình “phi lợi nhuận”, nhưng cái sự “phi lợi nhuận” đó giúp hắn kiếm bộn tiền. Mỗi địa danh tham gia phải … kí hợp đồng và đóng cho tổ chức 5k USD/tháng. Các website khác muốn sử dụng các nội dung về các thắng cảnh bình chọn cũng phải trả phí 5k USD/tháng. Ngoài ra, hắn còn có các nguồn thu từ tiền tài trợ, tiền chia từ các công ty dich vụ viễn thông cho phí SMS và vote call, tiền bán các loại hàng hoá như áo phông, đồ lưu niệm với giá rất đắt…
Đặc biệt, bọn lừa tiền N7W còn chơi trò khốn nạn nhất trong các trò khốn nạn đó là … bán phiếu bầu. Một người có thể nhắn bao nhiêu tin tùy thích để bầu chọn. Tức là N7W “thả cửa” cho các con mồi mua càng nhiều phiếu bầu càng tốt. Việc làm này vừa phản khoa học, vừa mang đậm tính chất lừa tiền thiên hạ.
Trả lời về khoản “lợi nhuận” khổng lồ, từ 3 năm trước, báo Sachsen (Đức) dẫn lời N7W tuyên bố: "Chúng tôi cam kết sẽ dùng 50% tiền lãi thu được để đầu tư vào việc tu bổ 7 kỳ quan thế giới mới và một số công trình khác". Khi được hỏi 50% số lãi còn lại sẽ được dùng vào việc gì, N7W im lặng. Chưa kể, đã 3 năm trôi qua nhưng mình chưa thấy tăm hơi gì về khoản tiền tu bổ mà N7W mạnh miệng hứa nó nằm ở đâu cả, bạn nào thấy rồi thì báo cho mình 1 câu với.
Đẳng cấp chém gió cấp quốc tế. (Xem tiếp)
THƠ CHU HOẠCH
nguyenthuyquynh
21 September, 2011 09:04
tác phẩm của bạn văn
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Tôi chỉ còn biết tự trách mình kém cỏi khi đến tận hôm nay mới được đọc thơ của ông, trên lethieunhon.com, và từ bạn ông là anh Nguyễn Quyết Thắng gửi cho tôi. Những bài thơ hay đến lạ lùng, là máu thịt của một đời người chìm nổi trong sự dập vùi của thời cuộc đen bạc. Thơ cất lên từ những mảnh vỡ của số phận, cay đắng hết mọi nỗi cay đắng mà vẫn đủ bao dung với Đời.
Tôi nhận từ ông một bài học lớn về Sự Sống.
Rất tình cờ, tôi đã đem thơ của ông về rồi gõ những dòng chữ này, đúng vào ngày giỗ của ông. Kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn ông, họa sĩ – nhà thơ Chu Hoạch.

QUÊ
(Kính tặng Quê Trôi và Mẹ)
Quê ơi!
Mưa ở trăm nơi
Nắng ở trăm nơi
Nhớ về áo tơi nón lá
Tôi về quê đây
Đồng quê áo vá
Người quê trắng xóa
Quà quê:
Lưng rá Rô zon
Con Diếc chửa
Đuôi cờ vẫy vẫy sắc hoe hoe
Nội, Ngoại vỗ lưng nhau:
- Ơ kìa con chị Ba Lung!
Tôi xuôi cổng đông
Tôi về cổng Hạ
Em – ôm con đỏ tìm tôi
- Anh ơi, cây Táo bán rồi!
Qua mùa trái xanh chín nục,
chín rụng chín rơi…
Lặng cười Tôi dỗ tôi:
- hương táo đầu mùa anh nhớ…
Hôm qua
Mưa đi chơi đêm
Mưa về gọi cửa
Gọi người
Mang câu mang vó đơm đó đồng xa
Nước ngập ao ta
Nước dâng hoa Súng
Đôi Ếch cốm phải lòng nhau
Chốc chốc buông câu thưa gọi…
Đừng đừng Sen ơi ướp hương trà mới
Cho ta đi tìm hương Vối ngày xưa
Siêu nước giếng Chùa bếp rạ
Tôi trở về trong tay Mẹ
Giường thơm trăng xế bốn mùa
Cay đắng nhiều năm bỏ rẻ
Tôi lại mơ
Tôi mơ
Thấy mái Bồ câu
Gọi trống Bồ câu lên chuồng
Thấy Mái hoa mơ tha rơm vàng rải ổ
Một trái trứng hồng sáng sủa
Chàng: Trống đỏ
Lo tái mào
Lo ngày trứng nở
Lo đặt tên con…
Tôi mơ
Thấy con lợn lang
Tru lên hồng hộc
Mệt nhoài
Mười hai chú Lang tơ mum múp ra đời
Vào cái đêm hoa Xoan rơi đầy ngõ
Cây Sung cầu ao tặng nắm lá
Cối gạo cho cám bã
Ao cho bèo
Cây rơm cho hơi ấm chiêm mùa rộ reo
Gốc Tre cho que cời lửa…
Mười hai chú Lang tơ mum múp ra đời
Đồng quê lo lắng
Bao giờ cho hết mối lo?...
Tôi mơ
Giấc ngủ ấu thơ toát mồ hôi hột
Khi tối chót nghe ông Ba Bộ nói về một linh hồn về với Đất
Nhân thấy ngang trời một kiếp sao rơi…
Tôi mơ
Vào tuổi chín, mười
Đình làng nổi trống
Tù và
Mõ
Rống:
- Tập hợp tiếng động
Làng đuổi Gấu ăn Trăng!
Gấu nhả Trăng rồi
Làng túm ba tụm năm nói về vận nước
Và
Gió lúc nửa đêm chỉ là tiếng thở dài thao thức của đồng quê…
Tôi mơ
Một dải chân đê
Cào cào xòe áo xanh áo đỏ
Dế cà rích gù người tanh tách bật đôi càng cháy thui…
Tôi – là đứa trẻ mồ côi
Bầu bạn với loài sâu bọ
Cha ơi!
thế giới chiến tranh hai có gì vui mà Cha không về nữa?
Hôm nay phố nở sao cờ…
Tôi mơ
Quán trắng đồng chua
Nơi Bà ngoại vừa yên nghỉ
Giữa đồng mưa
Bà ơi! Không thể
Còn một lần cháu thổi Bà nghe
Bài sáo trúc quen từ sau mỗi độ ra đi …
Tôi mơ
Bài thơ Quê bắt đầu đụng cựa
Sáng rồi
Tôi lại ra đi
Quà quê cắp nách
Quạt nan một đôi
Chổi rơm một chiếc
- Ở tỉnh nhiều người chật chội đụng chung
Anh mang ra một ít gió đồng
Thơm nhà thơm cửa
Anh mang ra một ít rơm mùa chiêm
Em phơi khô quạt rũ
Quét quay sớm hôm
Nhà sạch thì mát
Bát sạch ngon cơm…
Tôi đi rồi
Sau lưng
Quê khóc …
Hà Nội 1963
GIÓ ĐẦU Ô
(Viếng thi sĩ Đinh Hùng)
Gió đầu ô vào mùa chớm lạnh
Mạnh hơn và có lẽ sạch hơn
Hè bạc nắng rõ đường viền ô gạch
Giấc đầu hè che ngực tấm chăn đơn
Cả trời nữa cũng chuyển vần vân sắc
Tán Bàng xanh đỏ rám tới từng gân
Cũng chẳng thiếu những cành khô ngúc ngắc
Đã chả buồn giấu mặt giữa không gian
Thu có vẻ như cời than đốt lửa
Ta lại buồn như sắp sửa vào yêu
Để hối tiếc khi tuổi già đập cửa
Ta đổi Buồn
Vui lấy được bao nhiêu?
Và cứ thế đứng chiều mong chóng tối
Tối mong đêm
sấp gối lại mong ngày
Ôi chán nghẹn những mùa mưa cũ mới
Cứ bảo Trời không khóc mướn thương vay?
Ta lại buồn như sắp sửa vào say
Biết chạm cốc cùng ai trong ý nghĩ
Biết tìm mắt của ai màu tri kỉ
Mà cần chi khi chẳng thể khuây buồn
Chưa biết chừng có lẽ lại buồn hơn…
Ai bảo kiếp ôm chân thần Vệ nữ
Là nhẹ quên trăm vạn thứ trò đời?
Ta – chỉ thấy lúc tan cơn cuồng dữ
Tất trở về như mọi kiếp buông trôi…
Ai bảo chót mang đời đi lang thang
Là thư thái như một chàng nghệ sĩ?
Ôi, dối trá mà sao không biết sỉ
Hỡi anh chàng ra vẻ phớt buồn đau…
Ta muốn yêu như kiểu những con tàu
Vẫn khao khát giàu thêm màu viễn xứ
Như cái thưở hồng hoang thời dã thú
Tổ tiên loài Người vốn sợ cô đơn…
Có ai nghe cho hết một nỗi buồn
Ta sẽ đến cầu hôn
Và có lẽ
Ta sẽ chết trên bàn tay gượng nhẹ
Nỗi buồn ta nhờ thế sẽ tan mau
Có ai cười cho đến trọn ngày đâu
Bởi đau khổ vẫn ẩn rình đây đó
Có ai nghe và phải chăng sẽ có
Một tình yêu không dự cảnh trao tay?
Ta muốn buồn cho hết mức rồi say
Vô cùng tận
và lăn quay xác thịt
Cho đến tối
khi đầu ô gió mệt
Nhờ mưa lau dấu vết đêm qua …
Mẹ ơi!
Mẹ ở lại nhà
Con bất hiếu con ra đi từ sớm
Mẹ nhớ bữa phần cơm con ủ ấm
Ngoài kia lạnh lắm
Gió đầu ô…
Hà Nội 7/1967
(Xem tiếp)
Không phải một cuốn sách mà là một đời sống
nguyenthuyquynh
08 September, 2011 16:33
Nghiên cứu - phê bình - trao đổi
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
(Đọc “Dặm ngàn hương cốm Mẹ” của Nguyễn Tham Thiện Kế)
Nguyễn Quang Thiều
VanVN.Net - Cuốn sách không còn là một cuốn sách nữa. Nó là một đời sống. Sau khi đọc đến dòng cuối cùng của cuốn sách tôi đã nhận ra như vậy. Từng dòng, từng dòng chữ đã dần dần đưa tôi rời xa cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm để bước vào một đời sống của những vẻ đẹp tinh khiết và ngập tràn tinh thần nghi lễ. Đó không phải là một đời sống xa lạ, một đời sống của trí tưởng tượng mà là một đời sống chính tôi đã từng được sống trong nó và giờ đây được sống lại với toàn bộ tinh thần chứa đựng trong nó. Nhưng bây giờ, tinh thần của đời sống ấy đã và đang rời bỏ chúng ta. Và với những trang viết của mình, Nguyễn Tham Thiện Kế thực sự đã phục dựng tinh thần của đời sống ấy, đã làm nó sống lại trong tôi như trong một giấc mơ tôi được trở về một vùng đất với bao điều đẹp đẽ đã biến mất trên thế gian này. Và hơn cả một giấc mơ là một hiện thực.

Hầu như tất cả những gì Nguyễn Tham Thiện Kế viết vẫn còn đây. Vẫn còn đây những hoa lý, những đồi cọ, nương sắn, còn đây những cốm, những bánh khúc, còn đây những đào, những loa kèn, những cá Anh vũ, còn đây những ngôi nhà cổ, còn đây những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi, còn đây những Mẹ, những Dì và còn đây bao con người vô danh. Thế nhưng hiện thực của cái đời sống gấp gáp, thực dụng, qua loa và nhiều vô cảm đã đang làm cho lý không đa tình mơ hồ trong nắng hạ như xưa, cọ không còn xanh mộng du trên những vùng đồi trung du như xưa, cốm đã mờ đi ánh sáng xanh trong một ngày thu, đào bớt thắm trong nắng xuân rạo rực, những Anh vũ không còn ngời ngời trong nước biếc, rau khúc không còn dâng hương bất tận dọc chân trời, những ngôi nhà xưa không còn vọng tiếng ai da diết gọi về, những Nội, Ngoại, những U Già, những bà giáo Chi loãng đi trong hồn người hơi thở đầm ấm như lửa bếp chiều đông, thưa dần những bà mẹ đi trong hoàng hôn, vừa đi vừa tỏa hương thơm của ngũ cốc và bao con người vô danh nhưng bóng không còn mãi in trên bức tường ký ức của con người như thuở trước. Tất cả là bởi con người đã đổi thay. Và khi con người đổi thay giọng nói của mình, đổi thay cách nhìn của mình và đổi thay cảm xúc của mình thì mọi điều bỗng thay đổi.
Có thể có những người đọc cuốn sách này không tìm thấy những gì tôi tìm thấy. Tôi là người hoài cổ chăng? Hay có phải tôi là người quá nuối tiếc những gì như thế? Có phải những gì trong thế giới của Nguyễn Tham Thiện Kế không còn ý nghĩa trong cuộc sống bây giờ nữa? Hay có phải cái thế giới ấy chỉ là một giấc mơ cho những kẻ lãng mạn không hợp thời như Nguyễn Tham Thiện Kế, như tôi và như bao người khác nữa? (Xem tiếp)
Người cần vụ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
nguyenthuyquynh
27 August, 2011 08:40
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Biết ông là từng là cần vụ lâu năm của Đại tướng, một số phóng viên báo chí đã đến xin được trò chuyện và phỏng vấn, nhưng ông đều từ chối. Bởi với ông, những gì thuộc về Đại tướng là rất đỗi thiêng liêng, đến mức ông không đành và không muốn chia sẻ với người khác, mà chỉ muốn giữ cho riêng mình. Vì thế, việc ông dành cho tôi một buổi sáng để trò chuyện thực sự là điều may mắn với tôi.
Ông là Trần Văn Thìn, ở tổ 23 phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên, người đã có vinh dự được ở bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt phần lớn cuộc đời quân ngũ của mình.

Ông Trần Văn Thìn
21 năm và lời dặn của Đại tướng
Ông Trần Văn Thìn sinh năm 1940 tại thị xã Thái Nguyên. Ông kể, ngày ấy thị xã Thái Nguyên chỉ có vài con đường gọi là phố, Quốc lộ 3 đi Bắc Cạn, Chợ Mới chỉ vừa đủ rộng cho cái ô tô tải loại bé bây giờ, lau sậy um tùm, ngả ra đường. Ngày Cách mạng tháng Tám, ông mới 5 tuổi, nhưng giờ vẫn nhớ không khí tưng bừng của những người đi mít tinh giành chính quyền, nghe tiếng hô khẩu hiệu vang vang, cậu bé Thìn còn hớn hở chạy đi xem. Gia đình ông làm ruộng, cuốc đất trồng sắn ở xóm Phủ Liễn, đất đai vừa ở vừa vỡ hoang, làm ruộng. Đến lúc vào hợp tác xã, gia đình ông đóng góp 2,7 mẫu đất.
Tháng 3 năm 1959, ông Thìn được gọi nhập ngũ. Đợt ông đi cũng chính là đợt gọi nghĩa vụ quân sự đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên. Sau ba tháng huấn luyện, ông được phân công về đơn vị bảo vệ cơ quan Bộ Quốc phòng.
Sáu năm ở đơn vị bảo vệ cơ quan Bộ Quốc phòng, đến tháng 10 năm 1965 ông được lệnh chuyển sang phục vụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lúc ấy, Đại tướng là ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Quân ủy Trung ương.
(Xem tiếp)
MỘT BÀI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN RẤT HAY
nguyenthuyquynh
22 July, 2011 15:56
Bài hay cùng đọc
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Làm thế nào để có tác phẩm văn chương đỉnh cao?
(Nguyễn Hoàng Đức trả lời phỏng vấn của Sương Nguyên Minh. Bài trên lethieunhon.com)
Sương Nguyệt Minh: Thưa nhà LLPB Nguyễn Hoàng Đức! Theo ông như thế nào là tác phẩm văn chương đỉnh cao?
Nguyễn Hoàng Đức: Theo tôi tác phẩm văn chương đỉnh cao luôn bao hàm tư tưởng. Ở đây tôi muốn lý giải tư tưởng một cách dễ hiểu để nó không trở thành nơi ẩn nấp cho nhưng cái gì hàm hồ, à uôm, áng chừng, bất khả lý giải dẫn đến hòa cả làng. Trong cơ thể, bộ não là bộ tham mưu cao nhất lãnh đạo toàn bộ các chi thể. Một tác phẩm văn học (hoặc các tác phẩm của các môn nghệ thuật khác cũng vây) giống như một cơ thể và tư tưởng chính là bộ não của nó. Tư tưởng còn có thể được gọi là tính đề tài, tính chủ đề… Người ta không thể hy vọng vào tác phẩm có nhiều tư tưởng mới như mốt thời trang hay như bút phát, hay như phong cách viết. Tư tưởng thường là cao hay thấp nhiều hơn là cũ hay mới. Chẳng hạn như tự do, bình đẳng bác ái, chân lý là những chủ đề luôn luôn cũ hoặc chẳng bao giờ mới, nhưng được lịch sử văn học luôn luôn bám riết hoặc theo đuổi. Có thể minh họa thế này: Có rất nhiều cô gái chân cao chân thấp, vòng một khác vòng hai… đấy là tính đa dạng của cơ thể, nhưng về tư tưởng, trình độ tư tưởng của các cô ấy rất ít khác nhau. Người ta thường phân biệt người có nhu cầu vật chất hoặc người có nhu cầu văn hóa, người có nhu cầu tinh thần, người có nhu cầu tôn giáo, người có nhu cầu từ thiện đạo đức, hoặc người có tất cả nhu cầu đó.
Sương Nguyệt Minh: Chả lẽ tác phẩm đỉnh cao chỉ có tiêu chí là tư tưởng lớn? Còn bút bút pháp, nghệ thuật vứt đi à?
Nguyễn Hoàng Đức: Chắc chắn là vậy. Chẳng hạn ta lấy một ví dụ điển hình chắc chắn nhất: Đó là tác phẩm của Đôn ki hô tê của Xéc văng téc được thế giới văn học bầu chọn là tác phẩm hay nhất mọi thời đại. Vậy tác tác phẩm đó hay ở cái gì? Nó hay bởi chính chủ đề của nó. Đôn ki hô tê không kể khi mình đã già yếu hay ảo tưởng đã xông vào đấu với một hiệp sĩ chuyên nghiệp bất kể đến kết quả bại trận chắc chắn thuộc về mình. Điều đó nói lên hai điều chính: Một là, anh ta quý danh dự hơn cuộc đời của mình. Hai là, anh ta buộc phải làm bổn phận của người đàn ông để bảo vệ phái yếu.
Có thể nói danh dự vẫn là tiêu chí hàng đầu, đỉnh cao cuả các tác phẩm. Với văn học hậu phục hưng từ Pháp đến Nga với các cuộc đấu súng và đấu kiếm bảo vệ danh dự đã tạo ra tác phẩm đỉnh cao.
Không chỉ văn học, tất cả mọi loại hình nghệ thuật đều không cách gì ra khỏi nguyên lý Chân – Thiện – Mỹ. Chữ Chân đó là sự thật và chân lý. Chữ Thiện đó là hướng về lòng tốt. Còn chữ Mỹ là hướng về văn chương và nghệ thuật. Với những tác phẩm tư tưởng lớn thì mỹ học, hành văn, bút pháp chỉ là thứ tập tàng, điệu bộ, dẫn dụ, có vai trò rất thấp bé của kẻ làm trò… Thường các nhà văn không có tư tưởng thì mới làm trò đó. Một ví dụ điển hình: Văn hào Đốt xtôi ép xki, mở đầu ông viết rất điệu bộ như “Năm đêm trắng”, nhưng ông càng viết càng ẩu. Tất cả các tác phẩm về sau đồ sộ hơn. Chắc hẳn ông đã bỏ rơi sự điệu đàng bút pháp để đổi lấy sự vạm vỡ về tư tưởng. Ông ta đánh rơi : viết thế nào để đổi lấy viết cái gì. Đối với ông thông điệp của tinh thần là mạnh hơn cách bày tỏ.
Sương Nguyệt Minh: Vậy thì ở Việt Nam theo ông đã có tác phẩm văn chương đỉnh cao chưa? Nếu có thì là tác phẩm nào?
Nguyễn Hoàng Đức: Ở Việt Nam tác phẩm đỉnh cao lại là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng, đáng tiếc thay đây là phó sản của văn học Tầu, mà có Hội nghị văn học Trung Quốc đã xác định: Truyện Kiều của Nguyễn Du được phái sinh từ “Đoạn trường tân thanh” của Thanh Tâm Tài Nhân, chỉ là tác phẩm hạng hai của Tầu. Và họ còn khẳng định: Truyện Kiều không thể hay hơn bản chính về mọi góc độ.
Về thơ hiện đại chúng ta được chính thức khai sinh vào khoảng 1932 – 1945, nhưng mỗi bài thơ là việc của một tờ giấy (hai mặt), nó không bao giờ có tầm của một tác phẩm lớn mang tư tưởng lớn. Nhiều nhặn lắm thì nó chỉ mang một cảm xúc vừa phải, cho nên tôi gạt nó qua 1 bên.
Về văn xuôi, chúng ta có rất ít ỏi áng văn xuôi bất hủ như “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, một tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê Nhất thống chí” của Ngô văn Gia phái. Cùng thời gian đó, hình như văn xuôi Việt Nam mới chính thức chào đời theo chân thơ. Việt Nam đã có những tác phẩm văn xuôi khá ấn tượng như “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Số đỏ” của Vũ Trụng Phụng, “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng, “Chí Phèo” của Nam Cao; nhưng cái để lại ấn tượng trong đầu tôi nhất lại là tác phẩm mà ít người để ý là “Sống mòn” của Nam Cao. Lần đầu tiên vai trò của một người trí thức - một nhà giáo, dường như nó rất mờ nhạt không mang những tính cách đặc sắc của truyền thống hay thay đổi thời đại như nông dân và công nhân, đã bước vào trong tác phẩm. Tôi đã từng viết: đấy là ánh sáng đô thị đầu tiên đã manh nha thắp lên thay thế ngọn đèn dầu của cuộc sống truyền thống. Trong văn học nghệ thuật thường những đề tài bình dị nhất lại trở thành thách thức mỹ học lớn nhất. Tôi cho rằng chính Nam Cao đã tiến hành bước đi đầu tiên vào thử thách này. Ông đã viết về truyện mà không có chuyện. Còn các tác phẩm trên như Tắt đèn, Số đỏ, Chí Phèo, đều là những tác phẩm có chuyện gay cấn. Nhưng, chúng ta đã có tác giả lớn và tác phẩm đỉnh cao chưa? Tôi cho rằng các nhà văn mới “khai sinh” của chúng ta chưa đủ sự chín muồi toàn diện từ tri thức, văn hóa, tôn giáo, triết học, thần học, sinh hoạt mỹ học để làm nên tầm vóc văn hào có đại tác phẩm. Một lần ở nhà họa sĩ Lê Thiết Cương tôi đã bảo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp rằng: “Việt Nam chúng ta có nhiều nhà văn nổi tiếng, nhưng cái cần hơn của chúng ta là đại văn hào, các ông có dám đề cử mình ở tầm vóc đại văn hào không?” Nguyễn Huy Thiệp im lặng.
Sương Nguyệt Minh: Thế còn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hoặc các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu?
Nguyễn Hoàng Đức: Nguyễn Minh Châu thì tôi chưa đọc. Hoặc có thể đọc lúc trẻ nay thì tôi không nhớ nữa. Tôi đoán ông ấy cũng “rưa rứa”. Còn Bảo Ninh tôi cũng đọc mấy chục trang đầu…tôi xin nợ một bình luận trực tiếp. Tôi có xem một tạp chí của Mỹ hình như là “Book Review” họ có tôn vinh tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh là: “Sự phản tỉnh đầu tiên về chiến tranh ở Việt Nam.” Tôi cho rằng đây là một lời khen quá thẳng thắn và tôi hoàn toàn đồng ý với họ. Nhưng, tôi có một cách nhìn khác. Người ta bảo: nhìn quả biết cây, và cũng nói nhìn cây biết quả. Tôi đã gặp Bảo Ninh nhiều lần, tôi có thể đong đo được tầm vóc văn hóa, tri thức và cách sống của ông. Theo tôi thì riêng con người tác giả của Bảo Ninh cũng chưa thể có sự chín muồi hơn lớp trước (thậm chí còn thua kém lớp tác giả thời chống Pháp rất nhiều). Để trở thành một tác giả lớn. Chúng ta đã và đang chứng kiến một Nguyễn Huy Thiệp hết vốn ở truyện ngắn định leo vài nấc thang lên tiểu thuyết mi ni mà không gượng được. Một Bảo Ninh thì chỉ có vốn “một cuốn cho tất cả” đến mức tiểu thuyết đầu tiên không thể là đầu tầu để kéo theo phía sau là dăm ba toa tầu tác phẩm. Thành thực công bằng mà nhìn nhận học vấn, tri thức và văn hóa là những thách thức chưa “chín muồi” của lớp nhà văn chúng ta cả quá khứ đến hiện tại. Nhưng, ở quá khứ thì có khá hơn.
Sương Nguyệt Minh: Thế còn truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – một tác giả đỉnh cao thời kỳ đổi mới?
Nguyễn Hoàng Đức: Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng nhất ở ngoài nước là truyện ngắn “Tướng về hưu”. Đây là tác phẩm có tính chất tố cáo một hiện thực dữ dằn. Khi ra đời nó tạo ra được một bước ngoặt đó là so với những tác phẩm đang mang nặng tính tuyên truyền thì nó rẽ ngoặt để phản ánh sự thật. Ba tác phẩm về lịch sử khá vạm vỡn của Nguyễn Huy Thiệp là “Phẩm tiết”, “Kiếm sắc”, “Vàng lửa” được nhiều nhà văn, nhà giáo, và độc giả trong nước ca tụng, nhưng đối với người nước ngoài họ lại thấy rất bình thường. Tại sao? Lý luận mỹ học cho rằng: Chủ đề tác phẩm lớn mà dựa vào sử tính, chẳng hạn như nói về sự nổi tiếng của Hoàng đế Na pô lê ông hoặc vua Quang Trung, thì sự hệ trọng của đề tài sử tính ấy là vay mượn của lịch sử, chứ không thuộc về tác giả. Chẳng hạn nước mắt của cô thôn nữ chẳng khác gì nước mắt của hoàng hậu, nhưng bao giờ nước mắt của hoàng hậu cũng nổi tiếng hơn – bởi vì nó dựa vào tầm vóc của sử tính.
Sương Nguyệt Minh: Theo ông nhà văn Việt Nam cần phải làm gì để có tác phẩm đỉnh cao?
Nguyễn Hoàng Đức: Nhà văn Việt Nam hiện nay đơn giản như chúng ta thấy nhìn vào Hội Nhà Văn, có một ông Nguyễn Trung Đức biết tiếng Tây Ban Nha thì đã mất lâu rồi. Cứ tiếng Anh thì người ta lại nhìn Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, có vài vị biết tiếng Pháp thì đã nghỉ hưu lâu rồi. Nhiều nhà văn Việt Nam còn biện hộ rằng: Tiếng mẹ đẻ còn chưa biết hết, biết tiếng Tây làm gì?! Đây là việc cụ thể để chúng ta hãy tự nhìn nhận tầm vóc trí thức của nhà văn chúng ta. Chẳng hạn có bao nhiêu nhà văn chúng ta thích nghe nhạc thính phòng giao hưởng, bao nhiêu nhà văn yêu hội họa… trong đó văn chương và nghệ thuật có tính liên thông, mà ta thấp ở bộ môn này thì khó mà cao ở bộ môn kia.
Sương Nguyệt Minh: Thế còn vốn sống, sự dấn thân và trải nghiệm của nhà văn không cần ư?
Nguyễn Hoàng Đức: Dấn thân là gì? Chính là hành động! Mà tư tưởng thì dẫn đến hành động. Tư tưởng sinh ra từ đâu? Sinh ra từ tri thức. Còn vốn sống và trải nghiệm chỉ là hình thức của kinh nghiệm, nhiều khi chủ nghĩa kinh nghiệm lại giết chết sáng tạo.
Sương Nguyệt Minh: Tôi thì cho rằng: Nhà văn phải có bản sắc nhưng lại phải bắt gặp tính nhân loại. Qua cuộc truyện trò này, tôi cảm nhận được cứ như ông thì bao giờ cũng đặt tính nhân loại lên trên hết.
Nguyễn Hoàng Đức: Mời ông hãy nhìn ra đại dương, ở đó có rất nhiều con tầu có nhiều dáng nhiều vẻ khác nhau, nhìn dáng vẻ của mỗi con tàu người ta biết được nơi xuất xứ của nó đó chính là bản sắc. Còn đại dương chính là giá trị phổ quát cũng thuộc về nhân loại. Tôi cho rằng: nhà văn phải biết tôn vinh ngôn ngữ bản địa của mình trên bàn tiệc của nhân loại.
Anh muốn nói gì viết gì là của anh, của bản địa nơi anh muốn thuộc về (mà anh cũng không cách nào che được xuất xứ của anh đâu) nhưng hãy làm chói sáng ngôn ngữ đó trên bàn tiệc phổ quát của nhân loại. Thì cả dân tộc anh và nhân loại sẽ biết ơn anh.
Sương Nguyệt Minh: Xin cảm ơn ông về những lời ngay thẳng chân thành.
THƯ NGỎ GỬI BỘ TRƯỞNG TÀI CHÍNH TƯƠNG LAI
nguyenthuyquynh
18 July, 2011 17:56
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Trang Chính trị - xã hội của báo Văn nghệ Thái Nguyên số 15 vừa in bức thư ngỏ này. Tác giả là hội viên Hội VHNT Thái Nguyên. NTQ post lại để mọi người đọc, trước thềm Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII.
THƯ NGỎ GỬI BỘ TRƯỞNG TÀI CHÍNH TƯƠNG LAI
NGUYỄN VĂN
Thưa ông (bà)!
Tôi là cán bộ đã nghỉ hưu, năm nay 75 tuổi. Tôi đang sinh sống ở một tỉnh miền núi. Là một công dân, tôi có nhiều trăn trở, nhưng chưa biết ngỏ cùng ai. Trong các trăn trở ấy, có một số vấn đề liên quan tới lĩnh vực do ông (bà) phụ trách, nên tôi muốn đề đạt tới ông (bà). Kẹt nỗi, tôi chưa biết tiếp cận ông (bà) bằng cách nào. Gặp trực tiếp, thì tôi không có điều kiện, mà ở ta cũng chưa có tiền lệ này. Còn trên công luận, thì nhiều người cũng đã từng làm, rốt cục chỉ như “bắn súng chỉ thiên”. Thế nên, tôi nghĩ đến việc viết thư, nhờ cơ quan truyền thông đăng tải. Ngay cả cách này, tôi cũng chưa biết nó có thoát khỏi tình trạng... “bắn súng chỉ thiên” không? Dù sao thì cũng còn hơn là …ngồi im mà chờ đợi tiếp.
Vào lúc tôi viết thư này, thì ông (bà) chưa tại vị, phải chờ Quốc hội khóa XIII phê chuẩn. Điều đó có nghĩa, dù ông (bà) là ai, tôi cũng không gắn ông (bà) với những gì đã thuộc về quá khứ, nhưng lại rất kỳ vọng ở ông (bà) những gì thuộc về tương lai. Tôi cũng muốn chờ khi Quốc hội phê chuẩn chức danh của ông (bà), để danh chính ngôn thuận, song nghĩ kỹ, thì điều đó cũng không cần thiết, bởi dù ông (bà) là ai, thì hiện thực cuộc sống vẫn đang chờ người có tâm, có tài và thấu hiểu dân, gánh vác trách nhiệm.
(Xem tiếp)
CÔ GIÁO "CỔ TÍCH CÀ ĐƠ" TẠI LỄ KỶ NIỆM 20 NĂM BÁO VĂN NGHỆ THÁI NGUYÊN XUẤT BẢN SỐ ĐẦU TIÊN
nguyenthuyquynh
26 June, 2011 11:11
ống kính cuộc đời
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Nhân dịp kỷ niệm 20 năm báo VNTN xuất bản số đầu tiên (6/1991 - 6/2011), với sự kết nối của tác giả Phạm Lương, chúng tôi đã mời cô giáo Trương Thị Huyên về dự. Thật vui là chị đã nhận lời. Điều thú vị và cảm động là chị đã không về một mình, mà đem theo một trong bốn học trò của chị. Cà Đơ cách thành phố khoảng 80 km. Hai cô trò đi từ 5 giờ sáng, ban đầu là đi bộ từ bản xuống núi, rồi đi xe máy ra trung tâm huyện, cuối cùng là đi xe buýt từ trung tâm huyện Định Hóa về thành phố Thái Nguyên.
Bé Lê rất xinh, hát tặng buổi lễ bài "Con gà gáy" rất hay. Cô giáo Huyên bảo đây là lần đầu tiên Lê được xuống thành phố Thái Nguyên.
Một chút quà nhỏ những người làm báo VNTN gửi tặng cô giáo và các học trò Cà Đơ. Năm sau cô Huyên có thêm một em bé lớp 1 nữa, vậy là lớp ghép sẽ có cả lớp 5, lớp 2 và lớp 1. Điều thú vị bất ngờ: cả 5 em đều là con gái. Tòa soạn biết như vậy khi chuẩn bị quà tặng (quần áo) cho các em.


Cô giáo Thanh Mai, bạn đọc tích cực của Văn nghệ Thái Nguyên đã có bài phát biểu đầy cảm xúc và hữu ích với báo VNTN. Chị (và nhiều đại biểu) đã rất xúc động trước sự hiện diện của hai cô trò đến từ Cà Đơ. Chị cứ quấn quýt không rời bé Lê cho tới khi buổi lễ kết thúc.

Một chương trình nghệ thuật đặc sắc do thầy trò trường Cao đẳng VHNT Việt Bắc biểu diễn, trong đó tiết mục "Khoảnh khắc đêm hè" gây ấn tượng đặc biệt bởi sự thể hiện rất thành công của hai sinh viên khoa Múa.

Tỉnh ủy TN ghi nhận những đóng góp của báo VNTN.
Từ tháng 7, báo VNTN tăng thêm một kỳ xuất bản (3 kỳ/tháng). Đồng thời, đang xúc tiến cho ra đời báo điện tử. Cả bộ phận báo có 5 nhân mạng thôi, nên vui đấy nhưng cũng lo nhiều. Mong bầu bạn xa gần ủng hộ, gửi bài vở tham gia với chúng tôi nhé!
LOẠT BÀI KHÉP LẠI CUỘC TRAO ĐỔI VỀ BỨC THƯ CỦA PHẠM THỊ MẪN
nguyenthuyquynh
06 June, 2011 17:25
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Báo Văn nghệ Thái Nguyên và cuộc trao đổi về bức thư “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?”:
Tạo cơ hội để mọi người cùng lên tiếng,
vì sự phát triển hài hòa của con em chúng ta
Trong hai số 7 và 8.2011, Văn nghệ Thái Nguyên đã đăng bức thư nhan đề “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?” của tác giả Phạm Thị Mẫn, với tư cách một học trò cũ gửi tới cô giáo của mình. Sau khi bức thư được công bố, Tòa soạn Văn nghệ Thái Nguyên đã nhận được phản hồi tích cực từ phía bạn đọc, trong đó có nhiều bạn đọc đã hoặc đang là thầy cô giáo trong nhà trường. Đáng chú ý là, sau khi đăng tải trên internet (trong đó có một số website có uy tín như VietNamNet, Vanhoanghean...) văn bản “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?” đã nhận được sự đồng cảm, chia sẻ của rất nhiều bạn đọc. Từ đó, như dự kiến ban đầu, Tòa soạn tiếp tục đăng tải ý kiến thảo luận từ các góc độ khác nhau của các tác giả: Vũ Đình Toàn, Phạm Văn Vũ (VNTN số 9), Hữu Tiệp, Nguyễn Xuân Lan (VNTN số 10).
Từ nội dung bức thư đề cập, có thể nói văn bản “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?” đã phản ánh một số hiện tượng rất cần phê phán trong giáo dục - đào tạo, đã và đang gây bức xúc dư luận trong những năm gần đây. Tuy nhiên, khi công bố bức thư, Tòa soạn Văn nghệ Thái Nguyên không có mục đích sử dụng như một công cụ để làm mất uy tín của hệ thống nhà trường, chúng tôi coi đây là góp một lời “cảnh báo”, là tạo cơ hội để mọi người cùng lên tiếng đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực giáo dục - đào tạo, vì sự phát triển hài hòa của con em chúng ta. Đặc biệt, từ sự nhạy cảm của vấn đề, qua việc công bố văn bản “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?”, chúng tôi không cố tình dấy lên một sự kiện giật gân để “câu khách” phục vụ lợi ích ích kỷ của một tờ báo. Mục đích lành mạnh ấy được thể hiện cụ thể qua loạt bài vở cùng chủ đề đã đăng tải, qua thái độ thiện chí, nghiêm túc của Tòa soạn để hướng bạn đọc theo tinh thần chia sẻ và đóng góp, không lấy công kích làm tiêu chí ứng xử. Để làm được điều này, chúng tôi xác định rõ ràng và dứt khoát ngay từ đầu rằng, phê phán phải hướng tới mục đích xây dựng, không lấy cái cá biệt thay cho cái phổ biến, không vì nhấn mạnh một số hiện tượng tiêu cực mà làm ảnh hưởng tới hình ảnh của các thầy cô, và không được làm tổn thương tình thầy trò - một giá trị nhân văn cao quý của truyền thống văn hóa dân tộc.
Đất nước trong thời kỳ đổi mới, dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực xã hội nào thì mỗi người trong chúng ta cũng đều cần tới sự tự ý thức về công việc và hành động của chính mình để đóng góp vào sự nghiệp chung. Và trong khi đây đó vẫn còn ý kiến không đồng tình với một số việc làm chưa phù hợp với chuẩn mực trong nhà trường, thậm chí một số thầy cô đã bị báo chí chỉ rõ danh tính vì đã có hành vi chưa gương mẫu; thì ở vùng sâu vùng xa của mọi miền đất nước, vẫn có hàng vạn thầy cô đang chịu đựng gian khổ, năm này sang năm khác bám trường, bám lớp, lấy truyền bá tri thức và sự trưởng thành của học trò làm niềm vui. Từ góc nhìn nhân văn mà chúng tôi đã trình bày, để kết thúc cuộc thảo luận xung quanh các vấn đề mà văn bản “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?” đã đặt ra, trong số này, Văn nghệ Thái Nguyên giới thiệu phóng sự của tác giả Phạm Lương, viết về công việc và cuộc sống của một cô giáo người Dao ở một điểm trường xa xôi thuộc trường Tiểu học Lam Vỹ, huyện Định Hóa - nơi phụ huynh không phải đóng tiền mua quạt, máy lạnh cho con, nơi các thầy cô không biết tới “dạy thêm, học thêm”, và ngày 20.11, họ tìm thấy hạnh phúc nghề nghiệp qua lời chúc và bông hoa rừng của học trò đến từ những làng bản nghèo. Thiết nghĩ, chúng ta cần bày tỏ lòng kính trọng đối với những người đã và đang chịu đựng thiệt thòi để góp phần vào sự phát triển của giáo dục - đào tạo, vì sự phát triển của đất nước. Và không có ý nghĩa nào khác, họ chính là một tấm gương để chúng ta tin yêu và noi theo.
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm theo dõi và sự hưởng ứng của quý độc giả đối với bức thư của tác giả Phạm Thị Mẫn. Với mong muốn được đóng góp tâm sức cùng bạn đọc làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, làm cho các giá trị nhân văn ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội, trong suy nghĩ và hành động của mỗi chúng ta, báo Văn nghệ Thái Nguyên sẽ tiếp tục nỗ lực tiếp cận và tổ chức các diễn đàn trao đổi về những vấn đề xã hội - nhân văn mà độc giả của tờ báo quan tâm.
Tòa soạn Báo Văn nghệ Thái Nguyên
CỔ TÍCH CÀ ĐƠ
Phạm Lương

Trẻ em Lam Vỹ ngày ngày vẫn gắng gỏi đến trường trên những con đường thế này
Núi cao chi lắm núi ơi…
Chúng tôi đi một mạch từ Chợ Chu vào bản Cà Đơ. Từ thị trấn vào đến đây khoảng 18 km. Một chiếc xe máy và hai người phải sáu lần vượt suối, vừa đi vừa đẩy qua một con dốc cao vời vợi, sau một tiếng rưỡi thì tới lớp học.
Đây là một phân hiệu của Trường Tiểu học Lam Vỹ - huyện Định Hóa. Cách trường trung tâm chỉ 8 km mà phân hiệu này cứ như một thế giới khác. Xa lắc xa lơ. Thăm thẳm núi đèo. Con dốc tưởng như dài miên man, tưởng như hất người ta trở xuống. Các em học sinh ở đây vẫn ngày ngày vượt qua những con đường như thế để tới lớp học. Gọi là lớp học thì chưa đủ, đúng ra căn phòng cấp bốn rộng 18m2 này là một ngôi trường. Nó vừa được công đoàn ngành giáo dục Huyện cấp kinh phí xây dựng năm 2008, thay thế cho gian phòng tranh tre đã lủi thủi suốt 13 năm trời trước kia. Đứng ở lớp học, nhìn bốn phía chỉ thấy núi và trời. Đến cả con đường đi cũng oằn oại và toát ra sự nghèo khó.
(Xem tiếp)
THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN THEO CÁCH NHÌN CỦA TUI
nguyenthuyquynh
22 May, 2011 08:14
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn do Hội Nhà văn Hải Phòng (thuộc Hội LH VNNT HP) và Chi hội Nhà văn VN tại Hải Phòng (thuộc Hội NV VN) phối hợp tổ chức đã thành công tốt đẹp. Riêng tôi, tôi thực sự ấn tượng và trân trọng Ban Tổ chức Hội thảo, họ đã tổ chức một sự kiện văn học vừa nghiêm túc về mặt khoa học, vừa sang trọng và nghĩa tình.
Nhận lời mời của Ban Tổ chức Hội thảo, tôi có viết và trình bày một tham luận về thơ Đồng Đức Bốn. Trong lúc thư giãn chờ loạt bài trao đổi mới về bức thư của học trò cũ gửi cô giáo dạy Văn trên báo VNTN (vì báo Văn nghệ Thái Nguyên chưa tới kỳ xuất bản nên tôi chưa thể tùy tiện công bố các bài Báo sẽ in), mời mọi người đọc chơi nếu đủ kiên nhẫn
, vì bài hơi bị dài .
Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn - quy chiếu từ một số thống kê về thể tài và hình tượng nghệ thuật
(Nhân đọc Chim mỏ vàng và Hoa cỏ độc - Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn
- NXB Hội Nhà văn, H.2006)
Không có ý định khiêm tốn hay muốn che giấu hạn chế riêng, sự thật thì trước khi nhận lời tham gia Hội thảo, tôi mới chỉ được đọc một số bài thơ riêng lẻ của Đồng Đức Bốn, và chưa bao giờ được đọc thơ ông một cách có hệ thống. Phần nhiều những gì tôi biết về thơ ông là qua ý kiến đánh giá và phân tích của đồng nghiệp, mà nhiều người trong số họ, chỉ cần nghe đến tên là tôi đã như bị thuyết phục. Những giới hạn nghề nghiệp và giới hạn về địa lý, đã đem tới cho người viết sinh sống ở xa các trung tâm văn học, nghệ thuật lớn của đất nước như chúng tôi không ít thiệt thòi. Vì thế, khi có trong tay bản photo-copy văn bản Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn, tôi đã háo hức đọc. Và bài viết này là một số kết quả tôi thu nhận được sau khi đọc và suy nghĩ. Khả năng hạn chế cùng sự eo hẹp về thời gian có thể chưa giúp tôi có được các suy nghĩ thật sự sâu sâu sắc, có giá trị; mong được đồng nghiệp thể tất.
1. Sự thiếu vắng dấu ấn của thời cuộc, thời đại
Dù biết Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn không phải là toàn bộ sự nghiệp thơ của ông, nhưng tôi vẫn thấy hầu hết các tác phẩm trong đó đều gắn với với kỷ niệm của tình yêu đôi lứa, một tâm trạng vui buồn, hay nỗi cô đơn của riêng tác giả. Dường như ở đó còn thiếu vắng dấu ấn của thời đại, dấu ấn của thời cuộc, cụ thể hơn là dấu ấn cái hàng ngày của con người với các vui buồn có tính chiêm nghiệm, hay các vui buồn thoáng gặp, thoáng qua. Điều này khiến tôi quan tâm, bởi dấu ấn thời cuộc, thời đại thường in khá đậm nét trong thơ của đa số nhà thơ cùng thế hệ với Đồng Đức Bốn, thế hệ đã phải trải qua nhiều thăng trầm lớn lao cùng lịch sử đất nước. Thật ra, không ai yêu cầu thơ ca luôn phải gắn với sự vận động của thời cuộc, hay thơ phải nói về cái hàng ngày, vì nhiều khi thơ là sự sâu lắng, kết đọng của xúc cảm nội tâm, vượt ra ngoài phạm vi của sinh tồn thường nhật. Tuy nhiên sự thiếu vắng dấu ấn thời cuộc, thời đại trong thơ của một nhà thơ sống trong một thời kỳ có rất nhiều biến động xã hội - con người thì cũng đáng để đặt ra câu hỏi về sự “dấn thân” của nhà thơ?


(Xem tiếp)
THÊM MỘT CÔ GIÁO DẠY VĂN LÊN TIẾNG
nguyenthuyquynh
19 May, 2011 21:36
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Bài viết này được đăng tải trên Báo Văn nghệ Thái Nguyên số 10/2011, ra ngày 20.5. Tác giả của nó là một cô giáo dạy Văn ở một trường lớn và danh tiếng vào hàng nhất tỉnh. Người viết sử dụng bút danh chứ không ký tên thật, có lẽ vì ngại dư luận và đồng nghiệp. Nhưng những suy nghĩ trao đổi ở đây thì rất thành thật, kể cả những điều mà chủ nhà này cũng thấy cần phản biện, ví dụ như về cái gọi là "văn hóa phong bì" chẳng hạn. Nhưng trước hết, chủ nhà mời mọi người hãy cùng đọc!
Chúng tôi biết xã hội tin yêu nên mới đòi hỏi chúng tôi như thế
NGUYỄN XUÂN LAN
Kính thưa Ban biên tập Báo Văn nghệ Thái Nguyên!
Sau khi đọc bức thư của một học trò cũ gửi cô giáo dạy Văn được Báo Văn nghệ Thái Nguyên đăng tải qua 2 kỳ (số 7 ra ngày 9/4 và số 8 ra ngày 20/4), là một giáo viên đang dạy tại một trường THPT ở ngay trung tâm thành phố, tôi có một vài ý kiến như sau:
Xin hoan nghênh báo Văn nghệ Thái Nguyên đã đưa ra công luận những vấn đề nóng bỏng và bức xúc, những vấn nạn của ngành giáo dục – đào tạo đã tồn tại lưu niên. Có thể nói, từ góc nhìn của một học sinh có tâm hồn trong sáng, hiếu học, bức thư đã đề cập đến tất cả các căn bệnh trầm kha của nền Giáo dục nước nhà: bệnh thành tích khiến cho thầy cô cắt xén chương trình, chuyện nể nang nhau cho điểm đánh giá giờ học chưa chính xác, đánh giá thực tập sư phạm quá rộng rãi; việc lạm thu các loại quỹ, việc thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục; việc thay vì tổ chức cho học sinh lao động thầy cô cho học sinh nộp tiền rồi thuê người làm, chuyện thầy cô gợi ý học thêm, chuyện tặng quà 20/11; chuyện tai nạn nghề nghiệp của thầy cô…
Qua nội dung bức tâm thư, tôi nhận ra tiếng nói của một công dân có trách nhiệm xã hội, một học trò có tâm hồn trong sáng, yêu thầy cô, yêu trường lớp. Phải nói là một tình yêu đến cực đoan. Vì tha thiết với thầy cô mà em trăn trở, vì kính trọng, tin yêu thầy cô mà em đòi hỏi một sự chuẩn mực của người thầy, em đòi hỏi một môi trường giáo dục lý tưởng.
Tuy nhiên, theo tôi, bức thư cũng có những vấn đề mà tôi cho rằng người viết chưa có được cái nhìn toàn diện.
Chẳng hạn em kể chuyện cô giáo em, ban đầu thấy bó hoa gài cái phong bì mà phụ huynh tặng nhân 20 -11. Cô đã đỏ mặt rồi khéo léo trả lại, nhưng sau rồi không thấy cô trả lại phong bì nữa. Và em xót xa khi thấy hình ảnh đẹp đẽ của cô trong em mờ đi. Thật buồn, vì em chưa hiểu văn hóa phong bì. Văn hóa phong bì đã được hình thành từ khi kinh tế thị trường vận hành và phát triển. Ban đầu người ta dị ứng với nó. Nhưng càng ngày sự hiển hiện của nó trong đời sống càng trở nên phổ biến. Ngày xưa, khi đến chia buồn hay góp vui, mọi người dùng hiện vật. Người nhà quê thì cân gạo, con gà, chai rượu… ; cán bộ nhà nước thì cân đường, hộp sữa theo quy định của công đoàn cơ quan. Ngày nay, tràn ngập hàng hóa, nếu thăm nhau, tặng nhau hiện vật thì nhiều khi sẽ là lãng phí. Điều này đã được mọi người mặc nhiên thừa nhận. Và như thế cái phong bì đã đến với mọi người, mọi nhà những khi có sự. Việc phụ huynh tặng quà thầy cô nhân ngày lễ , tết là một hành vi văn hóa để bày tỏ lòng biết ơn, bày tỏ sự quan tâm và chia xẻ với thầy cô cũng là việc bình thường và nên làm. Đó là việc tùy tâm và tùy hoàn cảnh. Nhà nông có cân gạo hoặc con gà nhân ngày Tết cổ truyền; người thành phố có túi quà hoặc chiếc phong bì nho nhỏ góp cho cô có cái Tết đầm ấm, động viên cô. Của ít lòng nhiều. Nhiều nhà giáo đã rất băn khoăn. Không nhận thì phụ lòng người tặng, mà nhận thì trẻ con hiểu lầm. Làm nghề giáo lâu năm chúng tôi biết phụ huynh khi cho con đi học đều mong con học điều hay lẽ phải, có kiến thức thực sự để thành người. Rất ít phụ huynh tặng phong bì để xin điểm, để thầy cô chiếu cố cho con mình vì con mình chưa ngoan. Vấn đề là động cơ của người tặng và cách hành xử của người nhận. Với tôi, nhận một món quà dù nhỏ, cũng là nhận một tấm lòng, nhận một lời gửi gắm tin cậy và phải trả ơn đời bằng một tấm lòng chân thành, bằng một thái độ làm việc nghiêm túc tận tụy với nghề. Cái phong bì nhỏ đó không làm chúng tôi thiên vị học sinh. Có những học sinh ham game, để phối hợp với phụ huynh quản lý giúp đỡ các em. Giáo viên chúng tôi tốn không ít tiền điện thoại. Nhưng khi học trò đó quay lại học hành đỗ đạt chúng tôi thấy vui vô cùng. Đó là hạnh phúc mà nghề mang lại, là cái cảm giác hài lòng với mình khi thấy mình đã làm được một việc phúc thiện cho đời. Đôi khi hàng chục năm sau ,bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại, người gọi tự xưng là trò cũ, trò giờ thành đạt gọi về để tri ân cô. Với chúng tôi đó là món quà ý nghĩa nhất. Tôi biết ở hệ ĐH & CĐ, nhất là hệ tại chức, việc sinh viên học viên dùng cái phong bì để mua điểm là có, nhưng trong trường phổ thông thì thật hiếm.
Hay chi tiết em viết cuối năm cô chà đi xát lại những bạn học yếu có nguy cơ bị trượt tốt nghiệp, thả các bạn khác. Đúng là như vậy, nhiệm vụ của giáo viên là phải quan tâm đặc biệt để giúp đỡ các em học yếu, làm sao để các em đó đạt được mức trung bình đủ sức thi và đỗ tốt nghiệp.Vậy thì các em đã đạt trung bình và khá trong những tiết học cuối năm phải hy sinh tí chút cũng là hợp .
Hoặc việc các thầy cô chủ nhiệm thu tiền rồi thuê người làm thay việc cho học sinh lao động. Xin thưa với độc giả, việc cho tổ chức hướng dẫn cho học sinh lao động trường phổ thông là một nội dung giáo dục trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường. Nhưng quý độc giả đâu hình dung nổi khi học sinh phải đi dãy cỏ sân trường sau kỳ nghỉ hè một việc quá bé với học trò nông thôn, nhưng với học sinh thành phố lại là một nhiệm vụ bất khả thi. Các em cũng đi lao động nhưng hầu hết không có dụng cụ. Cô hỏi thì thật thà thưa: nhà em không có, em chẳng biết mượn ở đâu cả. Vì vậy chúng tôi xin ý kiến phụ huynh và khi phụ huynh nhất trí chúng tôi mới tiến hành.
Bài báo nêu chuyện thầy X quên kéo khóa quần, chuyện cô T, mặc hơi mát mẻ. Có đấy. Nhưng thưa, thầy cô chúng tôi cũng là những người bình thường, là người tuy làm nghề cao quý nhưng cũng là người lao động, vì vậy cũng như các nghề nghiệp khác chúng tôi cũng gặp tai nạn nghề nghiệp chứ.
Tuy nhiên, bài báo đã tạo ra một hiệu ứng tốt. Với những giáo viên trọng nghề, trọng danh dự họ đã phải giật mình xem lại ứng xử sư phạm, xem lại tư thế tác phong, lối sống của mình, ngẫm lại cuộc đời dạy học của mình từ khi hăm hở vào nghề, nghĩ xem mình như thế nào trong mắt học sinh ?
Chúng tôi biết xã hội tin yêu nên mới đòi hỏi chúng tôi như thế. Chúng tôi- những người dạy học lâu năm, tự cho rằng phần nào đã thấu lẽ đời đều tự biết Giáo dục là lĩnh vực phi lợi nhuận, ai đó muốn trục lợi khi làm nghề này thì mất nhiều hơn được.
Cũng nhân diễn đàn của Văn nghệ Thái Nguyên, cho phép tôi được ngỏ đôi lời cùng các bậc phụ huynh ở thành phố. Xin các vị , vì muốn con hay chữ mà yêu thầy thì cũng phải yêu đúng cách, phải trọng thầy trước hết. Đừng trước thầy thì nói một đằng, sau lưng thầy, tệ nhất là có mặt con trẻ lại nói theo kiểu khác, làm như vậy các vị làm hư con mình trước, làm hại con mình mà không hay, rồi tự biến mình thành kẻ bất nghĩa. Các cụ dạy yêu cho roi cho vọt…nhưng ngày nay, nhiều vị làm ngược lại cho con quá nhiều ngọt bùi, thừa thãi vật chất, thừa thãi yêu chiều nên đã làm khó cho thầy cô nhiều lắm, rồi cũng do đấy mà làm yếu con mình đi.
Lời kết, tôi thực sự mong muốn Văn nghệ Thái Nguyên tiếp tục khai thác mảng đề tài về nhà trường, tạo ra những diễn đàn trao đổi để tờ báo gần gũi hơn với độc giả tỉnh nhà, nhất là lớp giáo chức chúng tôi. Kính chúc Ban biên tập và anh chị em quý báo sức khỏe và hạnh phúc !
TIẾP TỤC CÁC Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ BỨC THƯ CỦA MỘT HỌC TRÒ CŨ GỬI CÔ GIÁO DẠY VĂN
nguyenthuyquynh
13 May, 2011 10:13
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
Hồi chuông đánh thức lương tri,kêu gọi trách nhiệm
của các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo
HỮU TIỆP
Trong 2 kỳ báo tháng 4- 2011, Văn nghệ Thái Nguyên có đăng "Thư của một học trò cũ gửi cô giáo dạy văn" bức thư đang được dư luận quan tâm, bởi thư có mang tính "phản biện", "trái chiều".... Đã từ rất lâu rồi, nhiều người chỉ ưa báo chí ca ngợi, tung hô, tô son đánh phấn chứ không ưa đưa ra những mảng tối... Quan niệm như vậy là không đúng với tinh thần phê và tự phê bình, mà trước đây Hồ Chủ Tịch luôn nhắc nhở mọi người. Ta thử hỏi có một con bệnh trầm kha, mà chỉ lo uống sâm nhung quế phụ đơn thuần, không được dùng thuốc đặc trị, có khi còn phải cắt bỏ những ung nhọt trong cơ thể phỏng có được không?
Tôi vừa là bạn đọc, vừa là tác giả thơ lâu năm của báo Văn nghệ Thái Nguyên. Trước khi nghỉ hưu, tôi cũng từng là thầy giáo dạy văn ở một trường sư phạm trong tỉnh nhà. Với hơn 35 năm dạy học đủ các cấp ở vùng thấp, vùng cao, ở thị xã, nông thôn. Nay cất trang giáo án, vẫn mài bút làm thơ, nhưng khi có người bàn về giáo dục - đào tạo tôi như trẻ lại của thời kỳ đứng lớp. Bởi vì gia đình tôi đã nhiều đời dạy học, nay các con giai, con gái, con dâu, con rể tất thảy đang là những người cùng tham gia "nghề cao quý trong những nghề cao quý" (Phạm Văn Đồng).
Bức thư gửi cô giáo cũ của em Phạm Thị Mẫn đã làm cho tôi và nhiều người cảm kích. Trước hết, đây là tấm lòng với thầy cô, với nhà trường, cả với sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước nhà. Tác giả của bức thư đã mạnh dạn nêu ra những mảng tối của giáo dục và nhà trường, đó là:
- Chương trình, nội dung giáo dục quá tải. Dạy lệch, học lệch, chạy theo thi cử...
- Bệnh chạy theo thành tích ngày một lan tràn ở mọi nơi, mọi cấp học, từ trên xuống dưới...
- Tiền tài đang lấn át lương tri, đang chi phối mọi mặt trong đời sống xã hội và nhà trường...
- Tính mô phạm, tấm gương của một thầy cô giáo đang bị hoen ố, phai mờ...
Trong thư của Phạm Thị Mẫn bày tỏ với thầy cô giáo cũ, thực ra không còn là những chuyện mới mẻ, nó đã và đang xảy ra ở mọi cấp học, ở rất nhiều nơi, càng lên lớp cao, cấp học cao lại càng nặng nề, nhức nhối... Tuy vậy, lại không phải là tất cả!.
Sở dĩ không phải là tất cả, vì bên cạnh sự xuống cấp, sa sút, tiêu cực trong nhà trường, vẫn còn rất nhiều các thầy cô giáo vẫn là tấm gương sáng cho các thế hệ học sinh soi vào. Nhiều cô giáo gắn bó cả đời mình, hy sinh cả tuổi thanh xuân vì con em các dân tộc ở miền núi, vùng cao, hải đảo xa xôi... Có nhiều cô giáo "cắm bản" lâu năm, không thể tìm được "nửa kia" của mình. Họ có xin chuyển vùng cũng không nổi, vì chẳng có ô tô, dù nhỏ, hoặc lấy đâu ra dăm ba chục triệu đồng để mà "chạy". Đã có không ít các thầy cô giáo dành tiền lương còm cõi của mình để mua sách bút cho học sinh nghèo. Và còn rất nhiều tấm gương cao quý khác!
Nếu có sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, công bằng thì các thầy cô giáo trong ngành giáo dục - đào tạo còn "sạch sẽ- trong sáng" gấp nhiều lần các ngành nghề khác như: Nhà đất, ngân hàng, thuế vụ, hải quan, y tế... Chuyện mua quan bán chức, ô dù, dây dợ, gian lận, đặc biẹt là tham nhũng, nay không còn là chuyện "khiêm tốn" nữa! Nó đang diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc vừa lộ liễu, vừa tinh vi, đang trở thành quốc nạn mà ai cũng biết. Mới đây, vụ động trời tại Công ty cho thuê tài chính II, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, vị nguyên Tổng giám đốc đã xé rào làm sai nguyên tắc quản lý kinh tế, để thu về món lợi cá nhân kếch sù bất chính. Chữ ký của vị Tổng giám đốc này cho một "hợp đồng ma" đã được "lại quả" tới 75 tỷ đồng. Có không ít ngành kinh doanh, sản xuất khác luôn bảo là thua lỗ mà tết đến vẫn có tiền thưởng cho cán bộ, công nhân từ 200 đến 300 triệu đồng/ 1 người. Trong khi các thầy cô giáo có món "thưởng tết" ở rất nhiều nơi không được tới 100 ngàn đồng, không đủ tiền mua cho các con một tấm áo mới hoặc mua cho bố một chai rượu tết. Ấy thế mà đại bộ phận các thầy cô giáo, nhất là dạy các cấp thấp, lớp thấp họ vẫn luôn tâm niệm: "Tất cả vì học sinh thân yêu". Thật đáng ca ngợi, đáng tự hào biết chừng nào!
Bức thư của Phạm Thị Mẫn gửi cho cô giáo cũ cũng có thể coi đây là những cảm nhận, suy tư, trăn trở, ước vọng của các thế hệ học sinh thời nay, muốn được thụ hưởng một nền giáo dục, một môi trường giáo dục ưu việt của chế độ ta. Có thể coi đây là những hồi chuông đánh thức lương tri, kêu gọi trách nhiệm với các cấp lãnh đạo, với các thầy cô giáo, với tất cả chúng ta cần có những quyết sách, những chủ trương, những biện pháp hữu hiệu, khẩn cấp... nhắm đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo có những bước tiến mới, đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Có một số việc cụ thể mà tôi muốn chia sẻ với các bạn, chẳng biết có giúp ích gì được cho ai không? Có làm một số bạn thay đổi cách nhìn nhận cực đoan chăng?
Việc thứ nhất, để nâng cao trình độ của giáo viên, BGH trường tôi rất kiên quyết yêu cầu một số người non về chuyên môn phải tự giải hết các bài tập trong SGK trong dịp hè, tăng cường dự giờ, kiểm tra giáo án. Tất nhiên là cũng nhiều "đau thưong mất mát" lắm, nhưng cuối cùng thì thấy cái Được rất lớn.
Thứ hai, về một số bất cập trong chương trình và SGK, chúng tôi có cuộc họp tổ đầu năm thống nhất cách dạy một số nội dung mình cho là chưa hợp lý. Sau đó gửi văn bản lên Sở, tôi thấy chưa có kiến nghị nào chính đáng của chúng tôi bị Chuyên viên SỞ từ chối. Sau đó, khi Cấp trên về Thanh tra kiểm tra, chúng ta đã có Giấy phép cho việc sửa đổi này rồi. GV hoàn toàn được phép linh hoạt sử dụng PPCT, miễn là đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng.
Thứ ba, về đạo đức tư cách GV, quả là càng ngày càng có nhiều người thực dụng, thiếu gương mẫu và thiếu tinh thần trách nhiệm trước học trò, nhưng để giảm thiểu điều đó, chúng tôi có hòm thư góp ý cho học sinh, có trang Web riêng, có phiếu điều tra thăm dò phụ huynh và học sinh, nói chung ai thế nào gần như bị trò "có ý kiến" hết. Việc này cũng gặp khá nhiều rắc rối, khá nhiều người phản đối quyết liệt, vì không phải bao giờ sự đánh giá của học trò cũng khách quan và chính xác, nhưng những tấm gương tiêu biểu hoặc những thói tật điển hình của thày cô đều được HS nêu gương hoặc phát hiện gần như là đúng.
MỘT NHÀ GIÁO NỮA GỬI THƯ CHO EM MẪN
nguyenthuyquynh
06 May, 2011 15:41
Chung
Đường dẫn cố định
Trackbacks (0)
Bản in
"Đọc thư em, thày chỉ có một cảm xúc duy nhất là mừng, rất mừng..."
Sau khi Báo VNTN đăng tải 2 kỳ bức thư “Thưa cô, vì sao lại có những chuyện như vậy?”, Tòa soạn đã nhận được ý kiến phản hồi của một số nhà giáo và bạn đọc. Để rộng đường dư luận, VNTN tiếp tục đăng tải các ý kiến gửi đến Tòa soạn. Báo VNTN số 9 ra ngày 5.5 đã giới thiệu với bạn đọc bài viết của Nhà giáo ưu tú Vũ Đình Toàn – nguyên giáo viên Văn trường THPT Chuyên Thái Nguyên, cùng với bài viết của thầy giáo trẻ Phạm Văn Vũ - giáo viên Trường THPT Định Hóa.
Dưới đây là bài viết của Nhà giáo ưu tú Vũ Đình Toàn, xin giới thiệu với bạn đọc blog của NTQ.
GỬI MẪN
VŨ ĐÌNH TOÀN
Cho phép tôi được xưng hô với Mẫn như đối với một học sinh cũ, bởi qua Thư ngỏ của em, tôi hiểu em là một người yêu văn chương, kính trọng và biết ơn cô giáo dạy văn, mà tôi thì cũng từng là một giáo viên dạy môn văn tâm huyết với nghề. Trước hết phải nói ngay rằng, đọc xong Thư ngỏ của em trên báo, thày không thấy “sốc”, cũng không thấy giận, hay thấy bị xúc phạm gì cả. Không phải vì tuổi tác đã làm trơ lỳ cảm xúc hay vì thày mắc phải căn bệnh “vô cảm” như nhiều người hiện nay. Lý do đơn giản là vì những điều em nói trong thư thày đã tận mắt thấy, đã từng trải nghiệm, đã trăn trở, đã đau và xấu hổ,... từ lâu lắm rồi. Nay đọc thư em, thày chỉ có một cảm xúc duy nhất là mừng, rất mừng vì có lẽ đây là lần đầu tiên có một người học trò cũ của nhà trường đã dám nói thật, nói hết (không biết đã hết chưa?) nhiều điều trước nay không dám nói, mà là đối thoại thẳng với cô giáo kính yêu (có thể còn là thần tượng) của mình, dưới hình thức Thư ngỏ trước công luận. Trong những điều em nhắc đến trong thư, chỉ có một vài chuyện tuy cũng đáng buồn nhưng không phải là phổ biến, thuộc tác phong sinh hoạt thiếu mẫu mực của một số giáo viên chưa được quan tâm chỉnh đốn (như chuyện ăn uống, trang phục, chuyện nghe điện thoại, xử lý tình huống...), còn lại đều là những hiện tượng tiêu cực vô cùng nhức nhối trong vấn đề dạy văn, học văn nói riêng và trong ngành giáo dục - đào tạo nói chung, đặc biệt là trong các mối quan hệ của môi trường giáo dục, trong đạo đức nghề nghiệp của người thày.
Để có thể chia sẻ tâm tư bức xúc của em, có lẽ phải nói chuyện hàng buổi hoặc viết một bài dài - dài hơn cả bức thư đăng hai kỳ báo của em! Vì thế thày không đề cập cụ thể vấn đề gì ở bức thư ngắn này mà chỉ trao đổi với em một ý trong “Đôi lời gửi toà soạn” của em. Theo em thì lá thư em viết cho cô giáo cũ là một “đối thoại hế hệ”. Thày nghĩ là không phải. Giữa em và các thày giáo dạy trước đây mấy năm vẫn chỉ là một thế hệ. Dẫu là 7X, 8X hay 9X thì vẫn chung một thế hệ gồm những con người lớn lên và trưởng thành trong thời kỳ chuyển đổi từ mô hình kinh tế dựa trên cơ chế hạch toán tập trung, quan liêu, bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Và trong thời kỳ này đã xuất hiện loại hiện tượng như là biểu hiện của kiểu “kinh tế thị trường dã man”, tác động tiêu cực tới đời sống văn hóa - xã hội. Cùng với tình trạng nói trên là di hại nặng nề của chiến tranh, là một số lề thói tiêu cực trong quan niệm sống và cách sống ra đời từ quá khứ,... đã sinh ra nhiều vấn nạn xã hội thách thức lương tri con người. Trong bối cảnh ấy, nhà trường cũng rất khó tránh khỏi tác động từ ngoại cảnh, như người ta nói “Ở đâu cũng dưới gầm trời”. Khi tham nhũng và kiểu sống “chụp giật” hoành hành, khi lập pháp còn có biểu hiện non kém, lúng túng và hành pháp còn “hành dân”... thì khó có thể tránh được chuyện giáo viên ép học sinh học thêm, rồi chuyện nhận phong bì để “nhấc điểm”, v.v... Thầy nói thế không phải để “đỡ đòn, gỡ tội” cho nhiều đồng nghiệp “rất tội nghiệp” của thầy. Vì thấy biết, trong số họ vẫn có người quyết sống một cuộc sống lành mạnh, phù hợp với đạo lý làm thày, dù phải trả giá. Nhưng em ơi, những người như thế vẫn thuộc về số ít, cũng như có một người học sinh như Mẫn, đâu phải dễ.
Tuy nhiên, thầy xin nói lại, em vẫn thuộc thế hệ của các thầy cô của em thôi. Bằng cớ là, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, em đâu đã có dũng khí nói những điều như bây giờ em nói. Vậy, đây là cuộc đối thoại giữa một bộ phận có lương tri đang hoang mang, chới với, vì vừa phải chứng kiến quá nhiều hiện tượng thiếu tính nhân văn, không phù hợp với lẽ sống lành mạnh, vừa thiếu các giá trị định hướng, với bộ phận còn lại là những người đã chấp nhận một phần hay chấp nhận toàn bộ những gì không mong muốn.
Thầy chúc em mãi mãi không thuộc về bộ phận thứ hai và cũng đủ bản lĩnh thoát khỏi trạng thái hoang mang, chới với để vững vàng bước tiếp trên con đường đã chọn.
Hẹn gặp lại em trong dịp khác.
Thái Nguyên, 30/4/2011.
(Nguồn: Văn nghệ Thái Nguyên số 9/2011)